Hỏi Đáp Về Niệm Phật (TT)

                        33.Hỏi Đáp Về Niệm Phật (TT)

III. GIẢI THÍCH NHỮNG HOÀI NGHI 
THÔNG THƯỜNG

  1. 20-Hỏi: Xin hỏi Pháp sư, nhiều người học Phật rất quan tâm đến vấn đề nhân quả báo ứng, như vậy người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, thì tình huống nhân quả báo ứng của anh ta như thế nào?Đáp: Người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà là người có đủ ‘Cơ tin sâu’ và ‘Pháp tin sâu’.Đầy đủ ‘Cơ tin sâu’ là thể ngộ được: Tự mình là phàm phu sanh tử tội ác sâu nặng, nếu dựa vào sự tu hành của mình thì không thể giải thoát sanh tử luân hồi của bản thân, không thể trả hết nghiệp chướng của mình, thì nhất định sẽ đọa vào địa ngục. Sự thể ngộ này gọi là ‘Cơ tin sâu’.‘Pháp tin sâu’ là thể ngộ được: Hạng chúng sanh tội ác sâu nặng như chúng ta đây, chỉ cần xưng danh thì nhất định được vãng sanh, liền nghe và tin nhận sự cứu độ vô điều kiện của Phật A-di-đà, lập tức quyết định vãng sanh. Đây gọi là ‘Pháp tin sâu’. Đại sư Thiện Đạo giải thích là ‘nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà thì nhất định được vãng sanh’.

    Người có hai loại quyết định tin sâu này thì nhân quả của họ như thế nào?

Phật pháp được xây dựng trên nền tảng nhân quả, bất cứ pháp môn nào đi nữa cũng đều không thể trái với giáo lý nhân quả.

Nhưng môn tự lực (tức là Thánh Đạo môn) là ‘nhân nào quả nấy’. Tức là những gì mình làm thì mình sẽ nhận lấy: Mình tạo nhân thiện thì mình sẽ nhận quả an vui; mình gieo nhân ác thì mình nhận lấy quả khổ, đây gọi là ‘nhân nào quả nấy, tự làm tự nhận’, thiện có thiện báo, ác có ác báo, tự mình gánh lấy.

Pháp môn Tịnh Độ tha lực không phải như vậy, mà là ‘mình làm Phật nhận’. Chúng ta từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay, tự mình mắc nhiều món nợ như giết người, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời độc ác, tội ngũ nghịch và thập ác, chúng ta không thể trả nổi, cho nên thường bị luân hồi chịu khổ. Đức Phật A-di-đà mở lòng từ bi thương xót chúng ta, gánh vác cho chúng ta, tích lũy công đức cho chúng ta, trả nợ thay chúng ta, cho nên nói ‘mình làm Phật nhận’. Quả báo tội nghiệp của chúng ta, Đức Phật A-di-đà gánh vác thay chúng ta, trả nợ thay chúng ta. Công đức mà Đức Phật A-di-đà tạo ra là để cho chúng ta thọ hưởng, sở hữu. Vì thế, kinh Vô Lượng Thọ nói:

Gánh vác quần sanh
Gánh nặng cho họ.

Đức Phật A-di-đà gánh vác gánh nặng của chúng ta trên vai, gánh nặng của chúng ta trở thành gánh nặng của Ngài. Ngài muốn đi gánh vác, muốn đi trả nợ, cho nên nói ‘gánh vác quần sanh, gánh nặng cho họ’. Lại nói:

Khai pháp tạng cho chúng
Thí khắp công đức báu.

Vì chúng sanh trong mười phương mà Ngài hoàn thành ‘pháp tạng’ có thể lìa sáu đường, vãng sanh về Cực Lạc, cũng chính là sáu chữ danh hiệu, cho nên nói ‘khai pháp tạng cho chúng’, ban bố rộng rãi báu công đức của sáu chữ danh hiệu này, hơn nữa:

Thường ở trong đại chúng
Nói pháp Sư tử hống.

Thường ở trong thế giới mười phương tuyên dương pháp môn cứu độ của sáu chữ danh hiệu này, cho nên gọi là ‘mình tạo Phật nhận’.

Pháp môn Tịnh Độ vẫn nằm trong nhân quả.

Như vậy, người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà phải chăng dương dương tự đắc, cao ngạo đối với người khác? Không thể như vậy! Bởi vì, chúng ta đã biết có thiện ác báo ứng, cho nên mới bỏ ác tu thiện. Nhưng bởi vì chúng ta không đủ sức để bỏ điều ác, không thể làm điều thiện, nên mới nhận được sự cứu độ của Phật A-di-đà.

Vì thế, chúng ta có được quan niệm nhân quả, quan niệm thiện ác, sẽ không làm càn làm bậy, ngược lại, biết được Phật A-di-đà có lòng bao dung, tha thứ chúng ta, chúng ta tiếp nhận sự bao dung, tha thứ to lớn. Dù chúng ta không có sự bao dung, tha thứ to lớn, nhưng cũng sẽ tha thứ và bao dung người khác.

Bởi vì, người như chúng ta đây không thể được tha thứ, không thể được bao dung, không thể thoát ly sáu nẻo luân hồi, nhưng Phật A-di-đà vẫn đến bao dung và tha thứ chúng ta, dù sao đi nữa chúng ta cũng nên bao dung và tha thứ người khác.

Đồng thời, Phật A-di-đà ban cho chúng ta sinh mạng, sinh mạng này không chỉ là sinh mạng thoát ly sáu nẻo luân hồi, mà còn là sinh mạng Vô lượng thọ, có đủ Vô lượng thọ và Vô lượng quang giống với Đức Phật A-di-đà, trí huệ cao minh như nhau, thần thông thấu suốt như nhau, nguyện lực vô lượng vô biên như nhau, có thể nói không chỉ đạt được trong đời này mà còn được sinh mạng vĩnh hằng mãi mãi.

Đồng thời, Phật A-di-đà đem thế giới Cực Lạc ban tặng cho chúng ta một cách vô điều kiện, miễn phí. Thế thì, chúng ta tiếp nhận sự ban tặng này rồi cũng đem bố thí cho người khác. Nếu người khác có yêu cầu, chúng ta chủ động nói pháp cho họ nghe, giống như Phật A-di-đà chủ động đến vì chúng ta, mà chẳng cần chúng ta yêu cầu, vái lạy… đây đều là tâm từ bi của Phật A-di-đà.

Chúng ta lãnh thọ bi tâm của Phật A-di-đà, bi tâm của Ngài tiêm nhiễm, phát khởi trong tâm chúng ta. Tại sao chúng ta biết mà lại kiêu ngạo đối với người khác, không đồng tình với đối phương mà lại keo kiệt? Mà lại mặc ý làm càn làm bậy, tự ý buông lung?

Đồng thời, nói theo lập trường của Phật, Phật cứu độ chúng ta là thương xót chúng ta không có năng lực giải thoát, nhưng trong tâm của Phật vẫn hy vọng chúng ta siêng năng giữ giới cho tốt, làm người trọn tình trọn nghĩa ở thế gian, làm người tuân thủ giới luật trong Phật giáo.

Cũng như cha mẹ yêu quí con cái, bất kể con cái thông minh hay ngu dốt, tình thương của cha mẹ đều thương yêu bình đẳng. Dù con cái phạm tội bên ngoài, thậm chí phạm phải tội ác tày trời, nếu cha mẹ giàu có, lại có địa vị, thì cha mẹ sẽ dùng của cải và địa vị của mình để giải quyết tội ác ấy.

Đứa con sẽ bình an trở về, như vậy lẽ nào nó lại cho rằng: ‘Dù ta tạo tội ác tày trời những vẫn được bình an, cho nên ta cứ mặc sức tái phạm, chẳng sao cả’. Nó có nghĩ như thế không? Không thể! Cha mẹ đương nhiên là rất yêu quý đứa con này, nhưng trong tâm cha mẹ hy vọng nó đường đường chính chính có chỗ đứng trong xã hội, làm người có đạo đức, tuân thủ pháp luật. Nếu đứa con hiếu kính cha mẹ thì sẽ thuận theo tâm ý của cha mẹ.

Bởi thế, người hiểu được điều này thì sẽ không nói: ‘Ta đạt được rồi, các bạn chưa đạt được’, cao ngạo với đối phương, sau đó căn tính hung ác, xấu xa của mình vốn có thể thay đổi, mà lại không muốn thay đổi, thậm chí càng phóng túng hơn. Nếu buông thả theo ác nghiệp như vậy, thì sẽ không hiểu được hai loại tin sâu Cơ và Pháp.

Pháp môn Tịnh Độ vốn đứng trên quan niệm về tội ác, hiểu rõ có thiện ác báo ứng, từ đó sẽ cẩn thận đối với các việc ác.

  1. Hỏi: Nhiều người không hiểu rõ vấn đề phát nguyện và hồi hướng, xin Pháp sư khai thị cho.Đáp: Pháp môn Tịnh Độ không nói chúng ta hồi hướng cho Phật A-di-đà, mà Phật A-di-đà hồi hướng cho chúng ta. Ngài đem công đức chân thật của Ngài hồi hướng cho chúng ta, khiến chúng ta lìa khỏi sự luân hồi nơi thế giới Ta-bà, khiến cho chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc, đạt đến sự chân thật – thành Phật.Một mặt, bởi vì chúng ta không có công đức chân thật, chúng ta tu hành đều là thiện hữu lậu, thiện tạp nhạp, hạnh giả dối, hạnh không chân thật, và không tương ưng với cảnh giới chân thật Niết-bàn của Phật A-di-đà, cho nên không thể có công đức để hồi hướng—đã không thể thì cũng không cần: Chúng ta không thể tu tập được công đức chân thật, cho nên không thể; đồng thời công đức chân thật của Phật A-di-đà đã hoàn thành, cho nên không cần.

Đây không cần riêng lẻ hồi hướng, cũng chẳng cần riêng biệt phát nguyện— Sở dĩ chúng ta tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà là vì có tâm nguyện sanh. Nói theo quan điểm tâm nguyện sanh này, nó thuộc về nội hàm của sự phát nguyện. Loại nội hàm này vốn đã đầy đủ, cho nên không cần mỗi ngày đều phát nguyện. Chỉ nói, nếu lúc chúng ta hành trì thời khóa sáng tối, thì sau cùng phải tụng một biến ‘văn Phát nguyện’.

‘Văn Phát nguyện’ này chính là ‘kệ Hồi hướng’. Đằng sau mỗi cuốn kinh, chúng ta đều thấy có một bài ‘kệ Hồi hướng’ của Đại sư Thiện Đạo. ‘Kệ Hồi hướng’ này không giống với bài kệ Phát nguyện hồi hướng thông thường, bài kệ này là:

Nguyện đem công đức này
Bình đẳng thí tất cả
Cùng phát tâm bồ-đề
Vãng sanh nước An Lạc.

Bài ‘kệ Hồi hướng’ này hoàn toàn là Phật A-di-đà hồi hướng cho chúng ta.

‘Nguyện đem công đức này’: Là chỉ cho bi nguyện của Phật A-di-đà, đem công đức mà Ngài tích lũy.

‘Bình đẳng thí tất cả’: Bình đẳng bố thí cho tất cả chúng sanh trong mười phương.

‘Cùng phát tâm bồ-đề’: ‘Tâm bồ-đề’ là tâm thành Phật, mà vãng sanh thì có thể thành Phật, cho nên tâm nguyện vãng sanh Tịnh Độ chính là tâm bồ-đề của pháp môn Tịnh Độ. Pháp môn Tịnh Độ không cần phải phát tâm bồ-đề nào khác nữa, nghe và tin nhận sự cứu độ của Phật A -di-đà, chuyển đổi tâm ý nguyện vãng sanh, tâm này là tâm bồ-đề của chúng ta.

‘Vãng sanh nước An Lạc’: Khiến cho chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Thế giới Cực Lạc là cõi nước an ổn, an lạc, không có sáu nẻo luân hồi ‘không có các thứ khổ, chỉ nhận các điều vui’, cho nên nói là ‘cõi nước An Lạc’.

Sau thời khóa sáng tối, chúng ta tụng bài kệ này, ngoài ra không cần phải tụng văn hồi hướng, cũng không cần phát nguyện vãng sanh. Chúng ta đã có nguyện này, thì sẽ vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Chúng ta lãnh thọ sự từ bi của Phật A-di-đà, không cần lúc nào cũng nhắc lại bảo mình rằng: ‘Ta phải như vậy, ta phải như vậy!’. Nếu như thế, chứng tỏ chúng ta vẫn còn ở giai đoạn đầu, vẫn chưa lãnh nhận được sự từ bi của Phật A-di-đà.

Lãnh nhận sự từ bi của Phật A-di-đà là tin Cơ và tin Pháp.

Tin Cơ và tin Pháp là tin rất sâu sắc, gọi là ‘tin sâu’, tin sâu là niềm tin có tính quyết định.

Vì thế, Đại sư Thiện Đạo mới nói: “Một là ‘Quyết định tin sâu’. Hai là ‘Quyết định tin sâu’ .

Tin, tức là tin sâu, hơn nữa mang tính quyết định. Đã quyết định thì mãi mãi quyết định. Về phương diện Cơ, đã quyết định tin sâu bản thân mình là phàm phu tội ác sanh tử, không có duyên ra khỏi luân hồi, cho nên mới ‘không nghi ngờ, không lo nghĩ, nếu nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà thì nhất định được vãng sanh’, như vậy đã đầy đủ ba món tư lương tín- nguyện- hạnh.

Bạn chỉ cần luôn luôn xưng danh, trong mỗi niệm đã có phát nguyện, đã có hồi hướng rồi. Vì thế, trong mỗi câu danh hiệu đều lưu xuất công đức mà Phật A-di-đà hồi hướng cho chúng ta, kêu gọi chúng ta để Ngài cứu độ, đều thể hiện bản thân mình tùy thuận và tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, lãnh thọ công đức của Ngài, nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Vì thế, mỗi tiếng danh hiệu đều biểu đạt tâm này, cho nên nói ‘một niệm tương ưng với một niệm Phật, niệm niệm tương ưng với niệm niệm Phật’.

Thông thường phải hồi hướng cho Long thiên hộ pháp, phải hồi hướng cái gì? Thật ra, trong mỗi niệm xưng danh, không cầu mong, cũng chẳng cần biết, mà tự nhiên có công năng đó. Không cần chúng ta phải hồi hướng mà Long thiên hộ pháp tự nhiên đến hộ trì cho chúng ta, bảo vệ chúng ta.

Bởi thế, pháp môn Tịnh Độ là: Chỉ cần chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, tự nhiên sẽ là ‘trên đền bốn ân nặng, dưới cứu khổ tam đồ’. Người học Phật chúng ta không thể quên ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia, ân chúng sanh, muốn báo đền bốn ân này thì chỉ có xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà. Xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, bạn không cần biết, chẳng cần cầu mà tự nhiên có thể siêu độ tổ tiên, có thể bảo hộ được con cháu. Dù chúng ta không nghĩ đến việc báo đáp hay không, nhưng nhờ vào Phật lực mà tự nhiên sẽ có công năng báo đáp.

22. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, niệm Phật có cách niệm bốn chữ và cách niệm sáu chữ, như vậy chúng ta nên niệm theo cách nào?

Đáp: Tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chấp trì hai chữ, hoặc bốn chữ, hoặc sáu chữ, đều không lìa sự cứu độ của Phật A-di-đà, bởi vì sự cứu độ của Phật A-di-đà không nói số chữ nhiều ít. Đồng thời, nói theo bản thân của Phật A-di-đà, thì hai chữ cũng là bản thân của Ngài, bốn chữ cũng là bản thân của Ngài, sáu chữ cũng là bản thân của Ngài, đều bao hàm lẫn nhau. Nhưng nếu chúng ta xưng niệm thì nên xưng niệm sáu chữ—‘Nam-mô A-di-đà Phật’ là tương đối hoàn chỉnh. Tại sao vậy? Bởi vì hợp với bản nguyện thứ 18.

Nguyện thứ 18 nói ‘chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước Tôi’, đây chính là tín-nguyện, cũng chính là ‘Nam-mô’; ‘cho đến mười niệm’—đây là bốn chữ, cũng chính là ‘A-di-đà Phật’. Vì thế, bản thân nguyện thứ 18 chính là tín – nguyện – hạnh, là ‘Nam-mô’, là ‘A-di-đà Phật’.

‘Nam-mô’ là chỉ cho chúng sanh chúng ta, ‘A-di-đà Phật’ là chỉ cho bản thân cứu độ. Bởi thế, trong đại nguyện thứ 18 có nói: “Chúng sanh trong mười phương, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác”. Vì thế, chúng sanh trong mười phương là ‘Nam-mô’, và ‘A-di-đà Phật’ đã thành Chánh giác, cùng thành một thể trong nguyện thứ 18.

Bởi thế, chúng ta xưng niệm sáu chữ danh hiệu này thì phù hợp với bản nguyện thứ 18, mang tính hoàn chỉnh.

Đồng thời, Đại sư Thiện Đạo cũng giải thích: ‘Nam-mô’ là tín và nguyện, ‘A-di-đà Phật’ là công đức của tín-nguyện. Theo lời giải thích này, chúng ta nên xưng niệm sáu chữ danh hiệu.

Trong tình huống nào đó, nếu sáu chữ danh xưng niệm không hoàn chỉnh, đương nhiên cũng không lìa nguyện thứ 18 của Phật A-di-đà, bởi vì nó dung thông lẫn nhau. Trong trạng thái nào đó, nếu muốn xưng danh mà cảm thấy sáu chữ danh hiệu không thuận tiện thì xưng niệm bốn chữ, hai chữ cũng được.

Thậm chí không xưng danh trong trạng thái tâm lý lúc đó cũng được. Bởi vì, không lìa ánh sáng của Phật A-di-đà nhiếp thủ. Cho nên, trong tác phẩm An lạc tập1, Thiền sư Đạo Xước dẫn lời kinh Phật nói: “Một người lâm chung, ngay lúc lâm chung không thể niệm Phật, nhưng biết có thế giới Cực Lạc, có sự cứu độ của Phật A-di-đà, thì chúng sanh ấy vẫn vãng sanh Cực Lạc”.

Có người lâm chung niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, niệm được chữ ‘Nam’, chưa niệm ra chữ phía sau, họ cũng được vãng sanh. Có người lúc lâm chung nguy cấp niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, mới niệm được tiếng ‘A’, chưa niệm được ba chữ phía sau, liền gặp dữ hóa lành. Cho nên hai chữ, bốn chữ đều là bản thân của Phật A-di-đà. Bởi lúc bạn còn chưa niệm, Đức Phật A-di-đà đã biết rồi,

‘tuy miệng chưa nói mà Phật đã biết’, khi chúng ta chưa yêu cầu thì Phật đã chuẩn bị cho chúng ta rồi, khi chúng ta chưa biết thì Ngài đã tặng cho chúng ta rồi.

Ở Đài Loan, chào hỏi mọi người, hoặc là điện thoại, thường dùng bốn chữ. Bởi vì ở Đài Loan, chào hỏi hoặc điện thoại cũng đều niệm bốn chữ, rất bình thường, cho nên tôi cũng niệm bốn chữ theo thói quen của người bình thường. Nhưng, tự bản thân tôi niệm sáu chữ, lúc tĩnh tọa hay đi đường niệm Phật, cũng niệm sáu chữ.

Nhưng, bản thân hai chữ ‘Di-đà’ là sáu chữ, bốn chữ cũng là sáu chữ, hai chữ, bốn chữ đều là bản thân của Di-đà, điều này không thể nghĩ bàn.

Nêu ra một ví dụ rằng: Trước đây có một Sư phụ tên là Pháp Lệ, Sư rất nghèo, lúc Sư muốn xây dựng một tinh xá, nhưng thiếu cỏ tranh, nghe nói trên núi có người, Sư bèn đến hóa duyên, muốn có một xe cỏ tranh. Lúc về nhà đi đến nửa đường, Sư rất mệt mới nằm ngủ ở trên xe, gần đó xảy ra hỏa hoạn, xe của Sư thuận theo chiều gió, nên lửa đã cháy đến, lúc tỉnh dậy, đã không còn kịp nữa, bởi vì lúc bình thường Sư niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, Sư khẩn trương niệm Bồ-tát Quán Thế Âm. Vừa niệm ra chữ ‘Quán’ thì lửa liền tắt.

Chúng ta hiểu Bồ-tát Quán Thế Âm hiển hiện lòng từ bi của Phật A-di-đà. Bồ -tát Quán Thế Âm tồn tại là muốn cứu khổ cứu nạn, nhưng có thể cứu khổ cứu nạn một cách tuyệt đối, thì phải tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà. Vì thế, Bồ-tát Quán Thế Âm tồn tại cũng chính là phương tiện dẫn dắt chúng ta xưng niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, để Phật A- di-đà cứu độ.

Nếu không như vậy, Bồ-tát Quán Thế Âm từ đời này qua đời khác, nghe tiếng kêu khổ của chúng ta mà cứu khổ cứu nạn, như thế thì không triệt để. Chúng ta nên biết: Bồ -tát Quán Thế Âm là thể hiện lòng từ bi của Phật A- di- đà. Sau khi hiểu về sự cảm ứng này, chúng ta sẽ không thay đổi niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’.

23. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, dù hiện tại chúng ta được Phật A-di-đà cứu độ, thế thì hiện tại chúng ta rốt cuộc là phàm phu hay thánh nhân?

Đáp: Hiện tại chúng ta vẫn là phàm phu. Nhưng nói phàm phu có tư cách của địa vị Bồ-tát, cổ đức nói ‘phàm phu phẩm cách Bồ-tát’.

Bởi vì, chúng ta tuy tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, nhưng vẫn còn tham sân si, thậm chí vẫn còn ý tưởng thấp kém ích kỷ. Nhưng hạng chúng sanh này chẳng phải là chúng sanh luân hồi trong sáu đường, mà có một phần ở thế giới Cực Lạc, cho nên nói là ‘chánh định tụ’, ‘tụ’ này là thánh chúng của Cực Lạc. Chúng ta đã nhất định tiến vào trong thánh chúng đó, cho nên nói ‘liền nhập vào chánh định tụ’.

Thánh chúng ở Cực Lạc nhất định thành Phật, cho nên chánh định tụ cũng là nhất định thành Phật. Chúng sanh đó gọi là chúng sanh chánh định tụ, cho nên nói theo phẩm vị thì chúng ta chẳng phải là hạng phàm phu.

Nhưng một ngày tồn tại của nhục thể chính là một ngày tồn tại của phàm phu. Vì thế, chúng ta không được kiêu mạn nói: “Ta là Bồ-tát”.

Chúng ta là phàm phu thì khó tránh khỏi tâm kiêu mạn, lúc này phải làm thế nào? Vẫn niệm Phật, người ta nói ‘mỗi niệm xưng danh thường sám hối’.

Có người khi viết tên mình, đều viết ‘thường sám hối’, ‘thường hổ thẹn việc gì đó’ hoặc là ‘hổ thẹn với ai đó’, nói một cách đàng hoàng, thật ra chúng ta chẳng biết hổ thẹn, để có thể nói ‘thường hổ thẹn’.

Đại sư Ấn Quang có đủ tư cách, ngài có căn tính của vị Tổ sư. Nhưng chúng ta không có căn tính đó, cho nên chúng ta phải có sự hiểu biết này. Nếu không như thế, sẽ tùy tiện xưng phàm phu là thánh nhân.

24. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà nhất định được vãng sanh. Như vậy, hiện tại là phàm phu, sau này vãng sanh về cõi Phàm thánh đồng cư, hay là đến Thường tịch quang Tịnh Độ của Phật ?

Đáp: Đại sư Thiện Đạo nói là Báo độ, thế giới Cực Lạc là Báo độ.

Nói về Phàm thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thật báo trang nghiêm độ, Thường tịch quang Tịnh Độ, thảy đều không phải sự giải thích của tông Tịnh Độ, đó là căn cứ theo giáo pháp của tông Thiên Thai để giải thích về thế giới Cực Lạc. Cách giải thích này hoàn toàn sai lầm, thế giới Cực Lạc chẳng phải là cõi nước như vậy, mà là Báo độ.

Báo độ là cõi nước của Phật A-di-đà đã phát nguyện tu thành tựu, nên gọi là Báo độ. Vì thế, chúng ta đến đó sẽ được quả báo của Phật A-di-đà, quả báo của Phật A-di-đà là Vô lượng quang, chúng ta cũng là Vô lượng quang; quả báo của Phật A-di-đà là Vô lượng thọ, chúng ta cũng là Vô lượng thọ; quả báo của Phật A-di-đà là ba mươi hai tướng, chúng ta cũng có ba mươi hai tướng, đều giống với Phật A-di-đà, đấy chính là Báo độ. Bởi thế, pháp môn Tịnh Độ vừa đơn giản mà công đức lại thù thắng.

Vì vậy, gặp được pháp môn này, chúng ta nên cảm thấy rất vui mừng (đương nhiên cũng không cần nhấn mạnh rất vui mừng, thực sự hiểu rõ, tự nhiên sẽ rất vui mừng), mà nghĩ đến phải báo ân Phật.

Bởi vì, pháp môn này và học thuyết của nó là ‘chúng ta tin’, chi bằng nói là ‘để chúng ta tin’. Chúng ta không có sức để tin, chính là không có tự lực. Sau khi nghe lòng từ bi của Phật A -di-đà dung nạp vào trong tâm, nương vào lòng từ bi của Ngài, trở thành niềm tin của chúng ta.

Cũng giống như trăng sáng trên bầu trời, chiếu xuống mặt nước các ao hồ. Nước trong ao hồ này, bạn nói nước nhận lấy trăng sáng, hay ánh trăng hòa vào ao hồ?

Đương nhiên, nếu không có nước thì cũng không có ánh trăng. Nếu như không có tâm chúng ta, dù Phật A-di-đà có lòng từ bi cũng không thể vào được. Nhưng nguồn gốc của tín tâm thật sự đến từ bên ngoài, đó là bản thân Phật A -di-đà. Ngài tu hành trong vĩnh kiếp, đang kêu gọi chúng ta,

Ngài khiến chư Phật trong mười phương đều khen ngợi danh hiệu Ngài, vì mục đích muốn phá vỡ tâm hoài nghi của chúng ta, đưa công đức này vào tâm chúng ta. Vì thế, lòng từ bi của Ngài làm xúc động tâm chúng ta, khiến chúng ta ngay lập tức có tín tâm, điều này không thể không tin  không cần nói đến tin hay không tin, ngay lúc đó chính là tin, cho nên ‘tín’ cũng chính là miêu tả trạng thái này. Thật ra, trạng thái đó là trạng thái đó, như thế là như t 

  1. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, ‘mười niệm vãng sanh trong phần Hạ phẩm hạ sanh của Quán kinh là thuộc về niệm Phật trong phần Tán thiện, như vậy vãng sanh đến thế giới Cực Lạc là chứng Niết-bàn, hay là xem nghĩa hiển của nó trong thai hoa sen?Đáp: Vãng sanh về ‘Hạ phẩm hạ sanh’ ở mười hai đại kiếp trong hoa sen, hay hoa nở liền thấy Phật, ngộ Vô sanh nhẫn? Nó có nghĩa hiển và nghĩa ẩn.Nghĩa hiển là trong mười hai đại kiếp, nghĩa ẩn là hoa nở liền thấy Phật ngộ Vô sanh nhẫn, giống với người khác. Nhưng tại sao trong đây phải nói mười hai đại kiếp? Bởi vì, họ là người phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp, nếu họ không phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp sẽ không nói mười hai đại kiếp.Chúng ta dùng đoạn văn này để chứng minh ‘chỉ trừ tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp’ của nguyện thứ 18, tại sao nói ‘chỉ trừ tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp’? Bởi vì, họ không phải mắc tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp, nên không thêm vào ‘chỉ trừ’.Chúng sanh trong mười phương thuộc loại căn cơ nào? Có bao gồm cả tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp không? Bản thân chúng sanh trong mười phương bao gồm cả tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp, thế giới Cực Lạc có thể khiến cho người phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp cũng đến đó thành Phật. Cho nên nói theo nghĩa ẩn thì mười hai đại kiếp và chỉ trừ tội ngũ nghịch, hủy báng chánh pháp là như nhau, đó là hàm nghĩa nào? Có ba hàm nghĩa:Một là, bởi vì người phạm tội ngũ nghịch rất nặng, cho nên nói ‘chỉ trừ’. ‘Mười hai đại kiếp’ nghiêm túc cho chúng ta biết rằng, tội nghiệp này rất nặng không nên làm! Nhưng chúng ta vẫn cứ phạm, vậy nếu phạm thì phải làm sao?Cuối cùng nói: Dù phạm tội ngũ nghịch mà hồi tâm niệm Phật cũng được vãng sanh, giống như chúng sanh ở Hạ phẩm hạ sanh, cũng có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc, một khi vãng sanh về thế giới Cực Lạc, sẽ lập tức đoạn tuyệt luân hồi sáu nẻo.Tuy ở phần Hạ phẩm hạ sanh có nói đến tội ngũ nghịch, không nói đến tội phỉ báng chánh pháp, nhưng trong ngũ nghịch có phỉ báng chánh pháp, bởi vì trong ngũ nghịch thì có tội giết A-la-hán1, phá hòa hợp tăng, làm thân Phật chảy máu,đấy là phỉ báng. Vì thế, hàm nghĩa khác là, cần cứu độ hạng chúng sanh này.Lại có hàm nghĩa nữa, nói: Bản tính của chúng sanh mười phương là chúng sanh nào? Chính là chúng sanh có căn tính ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp, sẽ tạo tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp, dùng tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp để chỉ cho chúng sanh mười phương.Có người nghi ngờ rằng:

“Chỉ có các vị Đại đức Tổ sư và hàng Bồ-tát mới có thể vãng sanh”, như thế chúng ta tự ti mình không có phần. Có phải như vậy không? Phật A-di-đà coi hạng chúng sanh có thể phạm tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp như chúng ta đây là đối tượng cứu độ, như thế càng có thể cho thấy chúng sanh mười phương là hạng chúng sanh nào, cho nên phần sau thêm vào câu ‘chỉ trừ tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp’.

Nói tổng quát về ba điểm này, tội ‘ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp’ cho chúng ta biết rằng: Tất cả chúng sanh đều phải cứu độ, không có một chúng sanh nào không nằm trong phạm vi cứu độ cả.

Như vậy, nói theo nghĩa hiển thì có mười hai đại kiếp. Nói theo Báo độ của Phật A-di-đà thì không có mười hai đại kiếp. Rốt cuộc có mười hai đại kiếp hay không? Phải đến thế giới Cực Lạc mới biết được, chúng ta ở cõi này không thể biết được.

Nói theo bản chất thì không có mười hai đại kiếp, nhưng nếu nói không có mười hai đại kiếp, sẽ có người kiêu mạn, cho nên nói mười hai đại kiếp, như thế rốt cuộc là có hay không? Chúng ta không cần bàn luận nhiều về điểm này, đến thế giới Cực Lạc tự nhiên sẽ biết.

Còn tiep

Trích Đại Ý Ba Kinh

Thích Minh Tuệ

Viết một bình luận