Hỏi Đáp Về Niệm Phật (TT)

32.Hỏi Đáp Về Niệm Phật (TT

12-Hỏi: Sư phụ có thể giải thích một chút về bài kệ ‘Phật ấy đời trước lập nguyện lớn’ của Đại sư Pháp Chiếu không

Đáp: Được! Cả bài kệ là như thế này:

Phật ấy đời trước lập nguyện lớn Nghe tên niệm Ta, đều đến rước Không phân nghèo khổ hoặc giàu sang Không phân kẻ ngu, người trí huệ Không phân học rộng hoặc trì giới Không phân phá giới, tội chướng sâu Chỉ cần hồi tâm siêng niệm Phật Khiến cho gạch đá biến thành vàng

Bài kệ này giải thích đại nguyện thứ 18. Bởi vì, đối tượng mà Phật A-di-đà muốn cứu độ trong nguyện thứ 18 là chúng sanh mười phương. Chúng sanh mười phương bao hàm rất rộng lớn, không có bất kì chúng sanh nào mà không nằm trong chúng sanh mười phương. Để biểu đạt ý nghĩa này, Đại sư dùng bài kệ này để giải thích.

‘Phật ấy đời trước phát nguyện lớn’: ‘Phật ấy’ tức là Phật A-di-đà. Phật A-di-đà lúc còn ở trong nhân địa lập nên 48 đại nguyện, trong đó nguyện lớn nhất là nguyện thứ 18, nguyện thứ 18 là độ khắp chúng sanh. Nguyện thứ 18 nói: “Nghe tên niệm Ta, đều đến rước”.

‘Nghe tên niệm Ta, đều đến rước’: ‘Niệm Ta’ chính là ‘cho đến mười niệm’, khiến cho chúng sanh niệm ‘cho đến mười niệm’ liền được vãng sanh về thế giới Cực Lạc, đó là bản nguyện của Phật A-di-đà. Ngài nói: “Người nào xưng danh hiệu Tôi, mà không vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì Tôi sẽ không thành Phật”. Đây chính là ‘cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác’, như thế gọi là ‘nghe tên niệm Ta, đều đến rước’.
Như vậy, nói chúng sanh mười phương l

‘Không phân nghèo khổ hoặc giàu sang’: ‘Không phân’ chính là không có phân biệt, không bỏ người nghèo mà chỉ tiếp dẫn người giàu— không phải coi trọng người giàu sang, khinh rẻ người nghèo khó. Người ‘giàu sang’ hay ‘nghèo khổ’ chỉ cần xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì tất cả đều được cứu độ; chỉ cần người nào tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, thì đều được vãng sanh, không phân biệt ai cả.


 ‘Không phân kẻ ngu, người trí huệ’: ‘Kẻ ngu’ chính là người không có trí huệ, không biết chữ, ngu si, hạ liệt’; ‘người trí’ tức là người thượng căn lợi khí. Người trí hay kẻ ngu đều được cứu độ một cách bình đẳng.

‘Không phân học rộng hoặc trì giới’: Người thâm nhập kinh tạng, đa văn, hoặc người trì giới thanh tịnh, thọ giới và phạm giới, thậm chí người tội ác rất nặng, chỉ cần họ hồi tâm thì đều được cứu độ.

‘Chỉ cần hồi tâm siêng niệm Phật’: Chỉ cần hồi tâm, nghĩa là ‘trước đây ta đã gây nên tội ác, vốn có quả báo, không nên làm như vậy, ta đã sai rồi’. Vậy thì, muốn giải trừ quả báo này thì phải làm thế nào? Chỉ cần tin thuận sự cứu độ của Phật A-di-đà, cho nên gọi là ‘hồi tâm’. Sau này siêng niệm Phật nhiều, chữ ‘đa’ (nhiều) này chính là ‘cho đến’ của ‘cho đến mười niệm’, sau này có thời gian thì chỉ cần xưng danh mà thôi.

‘Khiến cho gạch đá biến thành vàng’: ‘Gạch đá’ là thứ mà người ta vứt bỏ. ‘Gạch đá biến thành vàng’ là ‘biến sắt thành vàng’, ‘chuyển phàm thành thánh’, chỉ cần bạn hồi tâm niệm Phật, có thể chuyển phàm thành thánh, có thể chuyển sắt thành vàng, nói khác đi là chắc chắn vãng sanh thành Phật. Trước đây sinh mạng luân hồi chịu khổ, chịu nạn, hiện tại được vãng sanh thành Phật, siêu phàm nhập thánh tiến vào cảnh giới Niết-bàn thanh tịnh không ô nhiễm.

Gạch đá và vàng, khác nhau hoàn toàn, hồi tâm niệm Phật thì có thể biến sắt thành vàng, đấy là công đức của danh hiệu không thể nghĩ bàn

 

  1. Hỏi: Quán kinhnói: “Tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật”. Có cách giải thích cho rằng Phật tánh thanh tịnh của tự tánh, xin Sư phụ khai thị đôi điều về vấn đề này.

Đáp: Người tu hành tự lực, không coi thế giới Cực Lạc là thế giới Cực Lạc của Phật A-di-đà, cũng không coi Phật A-di-đà là Phật A-di-đà ở thế giới Tây phương Cực Lạc, mà xem Ngài là ‘tự tánh Di-đà, duy tâm Tịnh Độ’. Họ cho rằng Phật tâm thanh tịnh là bản thân của Phật A-di-đà. Lúc họ thanh tịnh thì những gì họ thấy đều không có quan niệm mang tính phân biệt như là khổ vui, tốt xấu… thế thì ngay lúc đó họ cảm thấy mình đang ở Tịnh Độ. Đây là những người tu pháp môn tự lực, coi Phật tánh trong tâm là Di-đà, coi sự thanh tịnh trong tâm là Cực Lạc.

Cách lý giải này thuộc về Duy thức quán1, cho rằng ‘vạn pháp duy thức, tam giới duy tâm’. Vạn pháp duy thức, dù thế giới Cực Lạc, dù Phật A-di-đà, cũng là sanh ra từ tâm của họ. Đó là pháp môn tự lực, cần phải nương vào sức của mình để tu thành Phật, tu hành ở thế giới Ta-bà này để chứng ngộ Phật quả. Một khi chứng ngộ được Phật quả, đối với họ mà nói thì sơn hà đại địa thảy đều là Tịnh Độ, bởi vì vượt qua khỏi tịnh và uế, thì đâu còn phân biệt Tịnh Độ và Uế độ nữa chứ?

Nhưng tông Tịnh Độ không giải thích như vậy, chúng ta từ đầu đến cuối xây dựng trên ‘chỉ phương lập tướng’. Thế giới Cực Lạc có phương vị, ‘từ đây đến cõi Tây phương’ tức là phương vị, Phật A-di-đà có hình tượng, chỉ cho Phật A-di-đà ở Tây Phương, cho nên gọi là ‘chỉ phương lập tướng’.

Đương nhiên, nói một cách rốt ráo, thế giới Cực Lạc rộng lớn vô lượng vô biên, Phật A-di-đà cũng không có hình, không có sắc. Nhưng, đó là cảnh giới của bậc thánh nhân, chúng ta không nhất định phải tìm cầu cảnh giới đó, chúng ta chỉ cần theo đuổi Đức Phật A-di-đà ở cõi Tịnh Độ có phương có hướng, chỉ phương lập tướng. Bởi vì, khi chúng ta đến đó thì tự nhiên chứng ngộ được tự tánh Di-đà, duy tâm Tịnh Độ.


 Bởi thế, ý nghĩa về ‘tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật’ là: Tâm ấy niệm Phật, tâm ấy là Phật. Chữ ‘tác’ (làm) này có nghĩa gì? Chính là niệm, đối với chúng ta mà nói chính là xưng danh niệm Phật và tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, cho nên nói ‘tâm ấy niệm Phật’, ‘niệm’ này bao hàm cả tín và hạnh ‘tâm ấy niệm Phật, tâm ấy là Phật’.

Không thể lìa Phật A-di-đà mà tìm cầu Phật, tìm thấy Phật, nếu như thế là thuộc về phạm trù tự lực của Thánh Đạo môn.

Vì thế, ‘tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật’ chính là ‘tâm ấy niệm Phật, tâm ấy là Phật’.

 

  1. Hỏi: Xin Sư phụ giải thích về ‘Thật tướng thân’ và ‘Vị vật thân’.Đáp: Dù cho không biết ‘Thật tướng thân’ và ‘Vị vật thân’ là gì, nhưng bạn chỉ cần tin tưởng sự cứu độ của Phật A-di-đà thì hai thân đó đều nằm ở trong câu danh hiệu này.


 Chỉ cần tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, xưng niệm danh hiệu Ngài thì giống như vừa mới nói, bốn oai nghi ‘đi đứng nằm ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần’ mỗi niệm xưng danh thì đó là Thật tướng thân và Vị vật thân nằm ngay trong câu danh hiệu này.

Nếu giải thích sơ lược, ‘Vị vật thân’ là thân cứu độ chúng sanh, ‘Thật tướng thân’ là thân thành Phật.

Thật tướng thân là nói theo phương diện tự lợi viên mãn của Phật A-di-đà, nếu tự lợi bản thân mình thành Phật tức thành Chánh giác, thành tựu Thật tướng thân, chắc chắn khiến cho chúng sanh vãng sanh, cho nên đồng thời là Vị vật thân.

Thật tướng thân là nói theo phương diện tự lợi viên mãn, tự lợi viên mãn không phải là lợi ích cho bản thân, Phật A-di-đà không phải vì bản thân mình, mà sở dĩ Phật A -di-đà thành Phật là để cứu độ chúng sanh. Vì thế, Vị vật thân là nói theo phương diện lợi tha viên mãn ‘nếu không vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác’.

Thật tướng thân là nói theo bản thân Phật A-di-đà, là tự lợi của Phật A-di-đà; Vị vật thân là nói theo phương diện cứu độ chúng sanh là sự lợi tha của Phật A-di-đà.


 Thật tướng thân và Vị vật thân đều chỉ cho Phật A-di-đà, cũng chính là chỉ cho Báo thân.

Bởi vì, hai thân này đều là do Bồ-tát Pháp Tạng phát 48 đại nguyện, 48 đại nguyện thành tựu rồi thì thành tựu Phật A -di-đà. Vì thế, Thật tướng thân đã thành tựu, Vị vật thân cũng đã thành tựu, đây gọi là Báo thân, là Phật A-di-đà, cũng gọi là Vô Ngại Quang Như Lai. Chỉ có thành tựu Thật tướng thân và Vị vật thân mới thành Phật A-di-đà.

Vì lẽ đó, muốn trở thành một Đức Phật trong các Đức Phật mười phương thì tương đối dễ dàng (đương nhiên thành Phật rất khó, nhưng so với nguyện của Phật A-di-đà là dễ dàng), nhưng muốn trở thành Phật A-di-đà của Thật tướng thân và Vị vật thân thì không hề dễ dàng chút nào, tại sao vậy? Bởi vì, Vị vật thân là thân cứu độ chúng sanh, thân cứu độ chúng sanh này là thân cứu độ chúng sanh mười phương đến thế giới Cực Lạc thành Phật. Thân này không thành tựu thì không thể thành Phật. Nói cách khác, Phật A-di-đà không có sức cứu độ chúng sanh trong mười phương, như vậy Phật A-di-đà vẫn không thể thành Phật. Đây chẳng khác nào nói, việc thành tựu bất cứ một Đức Phật nào trong mười phương ba thời là dễ dàng, nhưng thành tựu Đức Phật A-di-đà có Thật tướng thân và Vị vật thân thì đâu có dễ dàng?

Đương nhiên, chư Phật trong mười phương đều phát nguyện độ chúng sanh, nhưng lời nguyện của Phật A-di-đà là nguyện Siêu thế, vượt hơn các lời nguyện của chư Phật mười phương ba thời. Cũng chính là nói: Chúng sanh trong mười phương, có chúng sanh được Đức Phật khác có thể cứu độ, hạng chúng sanh bị chìm đắm trong thế giới Ta-bà như chúng ta đây, do bởi tham sân si rất sâu nặng nên chư Phật trong mười phương đều không thể cứu độ, cho nên đành phải lắc đầu thở dài, không có cách nào ra khỏi được. Chỉ có Đức Phật A-di-đà, Ngài không vứt bỏ chúng sanh, Ngài vì chúng ta mà phát nguyện, công đức tu hành của Ngài gánh lấy tội nghiệp của chúng ta, trả nợ tội nghiệp cho chúng ta, khiến chúng ta có thể đến thế giới Cực Lạc.

Vì thế, Phật A-di-đà mới là Phật có Thật tướng thân và Vị vật thân, chỉ có Ngài mới có ‘nguyện Siêu thế’ để cứu độ chúng sanh trong mười phương, cho nên chư Phật trong mười phương ba thời, nếu không có Phật A-di-đà thì chúng ta không có cơ duyên được cứu độ. Nếu không nhờ Đức Phật A-di-đà thì chúng ta vẫn chìm đắm mãi trong biển khổ sanh tử.

Thật tướng thân và Vị vật thân, chúng ta chỉ giải thích sơ qua, muốn thực sự thể ngộ Thật tướng thân và Vị vật thân, đó là cảnh giới của Phật. Vì thế, bất kể biết hay không biết, bạn cứ làm như vậy, trong lúc không biết và không cầu, công đức tự nhiên sẽ đến. Nguyên lý ấy sâu xa vô cùng, chúng ta chỉ nhận lãnh danh hiệu một cách đơn giản dễ dàng để xưng niệm.

  1. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, tin lời dạy của Đức Phật mà xưng danh niệm Phật, như thật tu hành là sao, có quy định gì không?

ĐápKhông hoài nghi đối với việc vãng sanh, không hoài nghi đối với sự cứu độ của Phật A-di-đà, đấy là như thật xưng danh. Niệm Phật không nghi là như thật tu hành.

  1. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, ‘vào vườn sanh tử, vào rừng phiền não, du hý thần thông’, đó có phải là chuyện sau khi vãng sanh rồi trở lại không?

Đáp: Đó là sau khi vãng sanh rồi nương vào nguyện lực của Phật mà trở lại cõi này. Bởi vì, như vừa mới nói, pháp môn Tịnh Độ là pháp môn của Đại thừa, sau khi vãng sanh thành Phật sẽ đến thế giới trong mười phương độ khắp chúng sanh, đến thế giới mười phương được gọi là ‘vào vườn sanh tử, vào rừng phiền não’. Chẳng phải việc của hiện tại. Hiện tại chúng ta chỉ tùy duyên, tùy phận, tùy sức, tùy căn khí mà ‘tự tin và dạy người tin’, vẫn không thể đạt đến tự tại, thật sự đạt đến tự tại, chính là sau khi vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Vì thế, tôi vừa mới nói, không sợ là không biết nói pháp độ chúng sanh mà chỉ sợ không vãng sanh; không sợ không được vãng sanh mà chỉ sợ hoài nghi sự cứu độ của Phật A-di-đà; không sợ hoài nghi sự cứu độ của Phật A-di-đà mà chỉ sợ không xưng danh. Xưng danh niệm Phật thì nhất định được vãng sanh.

Vãng sanh tự nhiên có thể thành Phật, dù bạn muốn hay không cũng nhất định thành Phật. Cũng như nước chảy vào biển cả, bạn nói không cùng vị mặn với biển có được không? Không thể được. Trăm sông rốt cuộc đều chảy vào biển, bởi vì chốn trở về của chúng là biển cả!

Nước trên mặt đất, có sạch, có dơ, có chua, có ngọt, tất cả đều khác nhau, cũng như hạng chúng sanh chúng ta, mức độ thiện ác, mức độ phiền não đều khác nhau, nhưng đến thế giới Cực Lạc đều giống nhau, tâm là Vô lượng quang, mạng là Vô lượng thọ, tự nhiên như thế, bạn không muốn cũng nhất định được, vả lại rất tự tại an lạc trong cõi đó. Bạn sẽ không nghĩ rằng ‘Ái da! Ta đến thế giới Cực Lạc chỉ muốn lìa sáu nẻo luân hồi, chỉ muốn đến hưởng lạc mà thôi, ta không đến nơi khác cứu độ chúng sanh, ta không có năng lực, ta cũng không có chí hướng…’. Đến đó rồi tự nhiên bạn có tâm lượng rộng lớn, hơn nữa có sức để cứu độ chúng sanh.

  1. Hỏi: Xin Sư phụ giải thích về ‘bốn bài kệ tuyển chọn ba lần’.Đáp: Cuối cùng trong Tuyển trạch bản nguyệnniệm Phật tập của Pháp Nhiên thượng nhân nói:

Muốn mau lìa sanh tử

Trong hai loại thắng pháp

Nên gác Thánh Đạo môn

Chọn vào Tịnh Độ môn.

Muốn vào Tịnh Độ môn

Trong hai hạnh chánh, tạp

Tạm bỏ các tạp hạnh

Nên chọn tu chánh hạnh.

Muốn tu về chánh hạnh

Trong hai hạnh chánh, trợ

Vẫn gần với trợ nghiệ

Nên chọn chuyên chánh định.

Nghiệp chánh định như vậy

Tức là xưng Phật danh

Xưng danh chắc vãng sanh

Vì nương bản nguyện Phật.

Bốn bài kệ này cũng là lời tổng kết trong Tuyển trạch tập, hàm nghĩa của các chương trong Tuyển trạch tập đều nằm ngay trong đây.

Bài thứ nhất:

‘Muốn mau lìa sanh tử’: Là phát tâm muốn mau xa lìa luân hồi sanh tử trong sáu đường, để tránh tạo tội tạo nghiệp từ đời này qua đời khác, kết oán thù với người này người kia.

‘Trong hai loại thắng pháp’: Họ cần phải nương vào pháp Phật mới có thể đạt đến mục đích. Vì thế, muốn lìa luân hồi sanh tử trong sáu đường, ở trong vũ trụ này, ở trong thế gian này, tôn giáo tuy nhiều nhưng chỉ có Phật pháp mới có thể đạt đến mục đích thoát khỏi sanh tử, chỉ có Phật giáo mới nói đến nhân quả luân hồi sanh tử trong sáu đường, và cách thoát ly nhân quả luân hồi sanh tử trong sáu đường. Phật giáo có Thánh Đạo môn và Tịnh Độ môn, cho nên nói ‘trong hai loại thắng pháp, nên gác Thánh Đạo môn’.

‘Nên gác Thánh Đạo môn’: Chúng ta phải tạm thời gác Thánh Đạo môn qua một bên, không tu theo Thánh Đạo môn, bởi vì Thánh Đạo môn là Nan hành đạo.


 ‘Chọn vào Tịnh Độ môn’: Bởi vì Tịnh Độ môn là Dị hành đạo, cho nên chúng ta phải bỏ Nan hành đạo để vào Dị hành đạo.


 Bài thứ hai:

‘Muốn vào Tịnh Độ môn, trong hai hạnh chánh tạp, tạm bỏ các tạp hạnh, nên chọn tu chánh hạnh’: Cũng chính là nói, hiện tại tiến vào Tịnh Độ môn, chuyên cầu vãng sanh về thế giới Cực Lạc, nhưng pháp môn Tịnh Độ cũng có hai loại: Một là năm loại chánh hạnh. Hai là năm loại tạp hạnh. Như vậy phải bỏ các loại tạp hạnh (năm loại tạp hạnh chính là nhiều thứ tạp hạnh), ‘nên chọn tu chánh hạnh’, phải lựa chọn quy về năm loại chánh hạnh.

‘Năm loại chánh hạnh’ là: Chánh hạnh đọc tụng, Chánh hạnh quán sát, Chánh hạnh lễ bái, Chánh hạnh xưng niệm, Chánh hạnh tán thán cúng dường.

  1. Chánh hạnh đọc tụngHoàn toàn không cần đọc tụng nhiều loại kinh luận. Chỉ đọc tụng ba bộ kinh Tịnh Độ, gọi là Chánh hạnh đọc tụng. Nếu lìa khỏi ba bộ kinh này, là Tạp hạnh đọc tụng. Hơn nữa, giải thích theo nghĩa rộng, chính là đọc tụng các tác phẩm nghiên cứu của các Tổ sư Tịnh Độ, thì có thể hiểu rõ về ba bộ kinh Tịnh Độ, đây cũng xem như là Chánh hạnh đọc tụng. Người không hiểu nhân quả, thì xem giáo lý nhân quả, tối thiểu có quan niệm nhân quả, đây cũng có thể quy về Chánh hạnh đọc tụng.

2-Chánh hạnh quán sát: Nếu bạn quán tưởng, thì chỉ quán tưởng thế giới Cực Lạc, bởi vì thế giới Cực Lạc là chỗ trở về trong tương lai của chúng ta. Chúng ta quán tưởng sự thù thắng trang nghiêm, thanh tịnh an lạc và hương thơm vi diệu của thế giới Cực Lạc mà sanh tâm hâm mộ, đấy chính là Chánh hạnh quán sát.

3-Chánh hạnh lễ bái: Đối tượng lễ bái của chúng ta là Đức Phật A-di-đà, ngoài Phật A-di-đà ra thì chúng ta không lễ bái các Đức Phật khác, đấy gọi là Chánh hạnh lễ bái.

4-Chánh hạnh xưng niệm: Để vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì phải xưng niệm câu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, không xưng niệm danh hiệu chư Phật và Bồ-tát khác.

5-Chánh hạnh tán thán cúng dường: Để vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì phải tán thán  cúng dường Đức Phật A-di-đà, chứ không tán thán cúng dường chư Phật và Bồ-tát khác.

Đây là năm loại chánh hạnh, còn các hạnh khác gọi là tạp hạnh. Phải bỏ tạp hạnh để tu chánh hạnh.

Còn việc bố thí, nhẫn nhục v.v., thậm chí hiếu thuận cha mẹ, thương yêu bạn bè, đây rốt cuộc là chánh hạnh hay tạp hạnh? Đây là những việc thiện mà chúng ta đương nhiên phải làm, hết lòng phụng sự, nó không liên quan gì đến tạp hạnh cả. 

Tuy làm như vậy, nhưng chúng ta không đem công đức các điều thiện này để hồi hướng vãng sanh về thế giới Cực Lạc, phải hiểu rằng: Dù cho chúng ta làm như vậy, nhưng làm với tâm hữu lậu, tâm có chấp trước thì không được viên mãn.

Bài thứ ba

‘Muốn tu chánh hạnh, trong hai hạnh chánh trợ, vẫn gần với trợ nghiệp, nên chọn chuyên chánh hạnh’: Như vậy, đã tiến vào năm loại chánh hạnh, chuyên tu năm loại chánh hạnh này, nhưng năm loại chánh hạnh thì có bốn loại trợ nghiệp, có tác dụng dẫn dắt, và còn một loại quan trọng nhất. Như vậy, chúng ta tạm thời gác bốn hạnh đó qua một bên, chỉ nương hạnh căn bản nhất và quan trọng nhất, là xưng danh. Nghĩa là: Lí do bạn đọc tụng ba bộ kinh Tịnh Độ, mục đích không nằm ở việc đọc tụng, mà hiểu ý nghĩa của kinh để chúng ta làm theo. Như vậy, ba bộ kinh Tịnh Độ và Vãng sanh luận chú được giảng ở phần trên đều dạy chúng ta: Nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà, niệm Phật nhất định được vãng sanh. Sau khi thực hành theo giáo pháp, cả đời chúng ta phải xưng danh niệm Phật, đấy là nghiệp chánh định.

Bởi thế, năm loại chánh hạnh này là để hiểu rõ chánh định nghiệp, để quay về chánh định nghiệp. Nếu hiểu được điểm này, thì bốn loại trợ nghiệp đều dung hòa vào trong chánh định nghiệp.

Tại sao nói vậy? Vì trước đây có thời gian đọc kinh, hiện tại hiểu được nghĩa lý của kinh, mục đích chính là muốn chúng ta niệm Phật, cho nên hiện tại chúng ta niệm Phật. Chánh hạnh quán sát là quán tưởng sự trang nghiêm của thế giới Cực Lạc. Chánh hạnh lễ bái ­là lễ bái Phật A-di-đà, đều dung nạp chúng vào việc xưng danh, biến thành xưng danh. Chánh hạnh tán thán cúng dường cũng như vậy. Bởi vì, xưng danh hiệu Phật là dễ nhất, trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ đều có thể xưng danh, bất kể bạn đến nơi nào cũng có thể xưng danh.

Nếu không như thế, bạn phải cúng dường trong điện lớn; bạn muốn lễ bái chỉ cần nơi có hình tượng Phật, chỗ nào không có hình tượng Phật thì làm sao cúng dường và lễ bái? Nhưng xưng danh thì chẳng phải như vậy, không cần phải có tượng Phật, bất cứ thời gian nào, bất cứ địa điểm nào đều có thể niệm Phật, cho nên phải chuyên về nghiệp chánh định xưng danh.

Bài thứ tư:

‘Nghiệp chánh định như vậy, tức là xưng Phật danh, xưng danh chắc vãng sanh, vì nương bản nguyện Phật’: Đồng thời, nghiệp chánh định xưng danh này là thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà, các hạnh khác chẳng phải bản nguyện của Ngài, Đại sư Thiện Đạo nói

Hoằng nguyện nhiều môn bốn mươi tám Đặc biệt niệm Phật rất là thân.

Phật A-di-đà phát 48 đại nguyện, trong đó chỉ có hạnh xưng danh niệm Phật của lời nguyện thứ 18 là căn bản nhất, hơn nữa chúng ta không hề xa lìa Phật A-di-đà, cho nên nói ‘rất là thân’. Đồng thời lại nói

Chỉ có niệm Phật ánh sáng nhiếp Nên biết bản nguyện mạnh vô cùng.

Chỉ có xưng danh niệm Phật mới được ánh sáng của Phật A-di-đà bảo hộ và nhiếp thủ, tại sao vậy? Bởi vì, đấy là bản nguyện của Ngài (nguyện thứ 18 – nguyện Niệm Phật vãng sanh), là sức mạnh nhất trong tất cả nhân duyên và là duyên mạnh mẽ nhất có thể cứu độ chúng ta, cho nên nói ‘Nên biết bản nguyện mạnh vô cùng’.

Chúng ta biết ‘Niệm Phật vãng sanh’ là nguyện thứ 18 trong 48 lời nguyện, cho nên nguyện thứ 18 là ‘bản nguyện’, là ‘xưng danh’. Đại sư Thiện Đạo nói chỉ có xưng danh niệm Phật của nguyện thứ 18 này mới được sự nhiếp thủ và bảo hộ của ánh sáng. Bởi vì, danh hiệu là ánh sáng, danh hiệu không lìa ánh sáng, ánh sáng không lìa danh hiệu. Vì thế, hiện tại chúng ta dùng tâm, miệng để xưng niệm câu danh hiệu này, tâm, miệng của chúng ta và danh hiệu của Phật A-di-đà kết hợp lại thành một thể nằm trong ánh sáng của Phật A-di-đà.

Đại sư Thiện Đạo lại nói:

Chúng sanh khởi hạnh, miệng thường xưng danh hiệu Phật thì Phật liền nghe người ấy; thân thường lễ Phật thì Phật liền thấy người ấy; tâm thường niệm Phật thì Phật liền biết người ấy. Chúng sanh nhớ niệm Phật thì Phật cũng nhớ niệm chúng sanh, ba nghiệp của Phật và ta không lìa nhau.

Bởi thế, ba nghiệp của người niệm Phật và ba nghiệp của Phật A-di-đà đều cùng một thể, không lìa nhau.

Vậy thì, chúng ta muốn gần gũi với Phật A-di-đà hay là muốn lánh xa Phật A-di-đà? Đương nhiên gần gũi với Phật A-di-đà, hiện tại có đủ thân phận vãng sanh, còn xa lánh Đức Phật A-di-đà phải liên tục luân hồi.

Bốn bài kệ này chủ yếu nhấn mạnh: Chúng ta phải xưng danh, bởi vì hợp với lời thệ nguyện trong nhân vị của Phật A-di-đà.

Trong đó có ‘ba tầng nghĩa phế và lập’

Tầng nghĩa thứ nhất: Nội ngoại phế lập’. Nói ‘nội’ chính là Phật giáo, ‘ngoại’ là ngoại đạo. Chúng ta muốn lìa sanh tử thì phải bỏ ngoại đạo, vào Phật giáo, đây là ‘nội ngoại phế lập’ của tầng nghĩa thứ nhất.

Tầng nghĩa thứ hai: Thánh tịnh phế lập’. Tuy lựa chọn Phật giáo, nhưng Phật giáo có tám mươi bốn nghìn pháp môn, nói sơ lược có tám tông phái, vậy thì chúng ta phải bỏ tu hành các pháp môn khác mà lựa chọn một pháp môn Tịnh Độ, đấy là ‘thánh tịnh phế lập’

  Tầng nghĩa thứ ba: Chánh tạp phế lập’, cũng gọi là ‘tín nghi phế lập’. Pháp môn Tịnh Độ cũng có các tạp hạnh khác, cũng có chuyên xưng danh hiệu Phật, chúng ta phải bỏ các tạp hạnh khác mà tiến vào chuyên xưng danh hiệu, cho nên có thể nói là ‘chánh tạp phế lập’ hay là ‘tín nghi phế lập’.

  1. Hỏi: Có người cho rằng ‘phát ba loại tâm thì được vãng sanh’ như Quán kinh đã nói, là chỉ có nguyện mà không có hạnh, xin Sư phụ khai thị.

ĐápTrong sáu chữ hồng danh mà chúng ta xưng niệm, đã có đầy đủ tín- nguyện- hạnh.

‘Chỉ có nguyện mà không có hạnh’ như vừa mới hỏi, đó là học giả nghiên cứu Nhiếp Đại thừa luận trước triều đại nhà Đường, dùng quan điểm của Nhiếp Đại thừa luận để giải thích Quán kinh. Để cải chính những quan điểm sai lầm này, Đại sư Thiện Đạo thuyết minh cặn kẽ trong phần Huyền nghĩa thứ nhất của Quán kinh sớ. Đại sư chủ yếu giải thích sáu chữ danh hiệu này. Ngài nói sáu chữ danh hiệu này có đủ tín – nguyện – hạnh.

‘Nam-mô A-di-đà Phật’: ‘Nam-mô’ chính là quy mạng, quy mạng chính là tín, quay về với mệnh lệnh của Phật A-di-đà, tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, cho nên ‘Nam-mô’ chính là tín thuận, là quy mạng. Đồng thời, cũng là phát nguyện hồi hướng, cho nên ‘tín’ và ‘nguyện’ đều nằm ở trong câu danh hiệu. Bốn chữ ‘A-di-đà Phật’ là hạnh của quy mạng, cũng là công đức của quy mạng. Nghĩa là: Phật  A-di-đà phát nguyện tu hành, đem công đức này hoàn toàn dung nạp vào trong câu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, khiến cho chúng sanh chúng ta có thể phát tâm ‘Nam-mô’, một khi phát tâm ‘Nam-mô’, thì bản thân Phật A-di-đà dùng công đức của Ngài ban cho các chúng sanh. Như vậy, công đức nằm ở đâu? Đều nằm ở trong bốn chữ ‘A-di-đà Phật’ này. Vì thế, chúng sanh ‘Nam-mô’ thì tự nhiên có trong bốn chữ ‘A-di-đà Phật’. Nói như thế, tín – nguyện – hạnh đều đầy đủ, cho nên nhất định được vãng sanh.

Vì lẽ đó, ‘cho đến mười niệm’ có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc, chẳng phải dựa vào sức của chúng ta, mà nương vào sáu chữ hồng danh. Nếu không có sáu chữ hồng danh này, chúng ta cứ niệm đủ thứ danh hiệu, thì có thể vãng sanh được không? Không thể vãng sanh.

  1. Hỏi: Xin hỏi Pháp sư, bậc cổ đức nói: “Nguyện thứ 18 là vua của bản nguyện, nguyện thứ 19 và nguyện thứ 20 là nguyện phương tiện, như thế thì xin ngài giảng một chút về nguyện thứ 19, 20 và nguyện thứ 18 có liên quan như thế nào?

Đáp: Nguyện căn bản của Phật A-di-đà chính là nguyện thứ 18, đối tượng của nguyện thứ 18 là cứu độ bình đẳng chúng sanh ở mười phương. Nhưng chúng sanh ở mười phương căn tính khác nhau, có chúng sanh dù cho nghe được nguyện thứ 18 cũng sanh tâm nghi ngờ, có chúng sanh ngay cả nguyện thứ 18 cũng nghe không được. Như thế, hai loại chúng sanh này vẫn phải cứu độ, làm sao đây? Lúc đó, phải căn cứ vào nguyện thứ 19 và nguyện thứ 20.

Nguyện thứ 19 thuộc về ba bậc chín phẩm, ba bậc chín phẩm và phương pháp tu trì đều không giống nhau.Bởi vì, không hiểu được nguyện thứ 18, nếu hiểu được nguyện thứ 18 thì họ sẽ không như thế, cũng không chấp trước vào pháp tu, tất cả đều quy về niệm Phật ‘cho đến mười niệm’ của nguyện thứ 18. Tuy là người xuất gia nhưng không chấp vào thân phận xuất gia; còn người tại gia cũng không chấp vào thân phận tại gia, thảy đều là ‘chúng sanh trong mười phương’ của nguyện thứ 18.

Nếu không hiểu được điều này, sẽ sanh ra các phẩm vị, cấp bậc. Thí như người ‘bậc thượng’ chính là xuất gia phát tâm bồ -đề. Người ‘bậc trung’ không có xuất gia, nhưng có thể phát tâm bồ-đề, tu các công đức về các điều thiện. Có người không thể xuất gia, căn tính cũng rất kém, lại rất nghèo khổ, không thể tu các hạnh, không thể làm công đức các điều thiện, đấy là ‘bậc hạ’.

Ba bậc chín phẩm’ lấy pháp môn khác nhau mà mình tu tập để hồi hướng vãng sanh về thế giới Cực Lạc, vẫn có thể vãng sanh. Phật A-di-đà vẫn muốn cứu độ những chúng sanh đó. Nhưng do không phù hợp với bản nguyện thứ 18, bởi nguyện thứ 18 là nguyện hiển hiện một cách tự nhiên, là danh hiệu Niết-bàn của Phật A -di-đà, chỉ có nguyện này mới có thể tiến vào thế giới Niết-bàn. Nguyện thứ 19 đương nhiên không thể đạt đến quả đó, ở nơi thai sanh chứ không phải hóa sanh. Vì thế, có khác nhau của ba bậc chín phẩm.
Nguyện thứ 18 và nguyện thứ 19 thuộc về ‘nguyện Đương sanh’, đời này vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Nguyện thứ 20 thuộc về ‘nguyện Kết duyên’. Tuy có người niệm Phật mong về Cực Lạc (gọi là ‘nghe danh hiệu Tôi, buộc niệm về nước Tôi’), mà tâm nguyện sanh không tha thiết, đời này chưa vãng sanh, nhưng đã kết duyên với Phật A -di-đà (đây gọi là ‘trồng các thiện căn’­– đã trồng hạt giống đợi kết quả ở đời sau), Phật A -di-đà liền dùng cơ duyên này làm cho người ấy nhất định vãng sanh trong đời sau (đây gọi là ‘chí tâm hồi hướng, muốn sanh về nước Tôi, nếu không được toại nguyện thì Tôi không thành Chánh giác’). Vì thế, nguyện thứ 20 gọi là ‘nguyện Buộc niệm nhất định vãng sanh’, cũng gọi là ‘nguyện Ba thời được toại nguyện’. Cổ đức ví von nguyện này: ‘Cũng như cá cắn câu, ở dưới nước chẳng lâu”.

 

(Còn tiếp)

Trích Đại Ý Ba Kinh

Thích Minh Tuệ

 

 

Viết một bình luận