Quan Kinh Tứ Thiếp Sớ Cương Yếu (TT)

33.Quan Kinh Tứ Thiếp Sớ Cương Yếu (TT)

X-Hai loại tin sâu, năm loại chánh hạnh có ý là quay về Nhất hướng chuyên xưng

Chữ ‘tín’ do chữ ‘nhân’ và ‘ngôn’ hợp thành, ý cho rằng ‘lời nói của người’ là ‘tín’. Nhưng nếu người không có nhân cách, nói dối không chân thật thì không thể trở thành ‘tín’, nên không thể tin. Vì thế, Đại sư Thiện Đạo giải thích ‘Thâm tâm’ gọi là ‘Tâm tin sâu’; nói ‘Tựu nhân lập tín, Tựu hạnh lập tín’, mục đích là nương vào người có thể tin, nương theo hạnh có thể tin, để xây dựng tín tâm cho hàng phàm phu được vãng sanh.

‘Tựu nhân lập tín’, người này không những chẳng phải hàng phàm phu, cũng chẳng phải là bậc Thánh của hàng Nhị thừa và Tam thừa, mà chính là Đức Phật, bậc có lòng đại bi đầy đủ, giác hạnh viên mãn, Phật là bậc nói chân chính, nói đúng sự thật, nói không hai lời, nói không hư dối. Vì thế, lời Phật nói thì đáng tin nhất, đây là nương theo ‘Phật’ để xây dựng tín tâm. Nhưng Phật nói điều gì?

Phần ‘Tựu hạnh lập tín’ nói: “Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, đi đứng nằm ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ, đây gọi là chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà”. Đây chính là ‘lời’ Phật nói, tự nhiên thành tựu ‘tín’, nên rất đáng để ‘tin sâu’, đây là nương theo ‘lời Phật’ để xây dựng tín tâm.

Vì thế, đại cương trong phần ‘Giải thích thâm tâm’ có hai ý:

1.Nương theo lời của người có lòng đại bi đầy đủ để xây dựng tín tâm (Tựu nhân lập tín).

  1. Nương theo hạnh nghiệp xưng danh chánh định để xây dựng tín tâm (Tựu  hạnh lập tín).

Vì thế nên biết: “Nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà thì nhất định vãng sanh” trong đoạn ‘hai loại tin sâu’ phần đầu của phần ‘Giải thích thâm tâm’, thế nào là ‘nương vào’ nguyện lực của Phật A-di-đà thì vẫn chưa nói rõ, cho đến khi ‘Tựu hạnh lập tín’ mới chỉ ra chánh định nghiệp là ‘nhất tâm chuyên niệm’. Bởi vì, nói ‘nguyện lực’ tức là sức của ‘nguyện thứ mười tám’. Nguyện thứ mười tám nói ‘cho đến mười niệm’, phàm là người ‘cho đến mười niệm’ tức là nương vào nguyện lực Phật A-di-đà, và ‘cho đến mười niệm’ chính là ‘Nhất tâm chuyên niệm, mỗi niệm không bỏ danh hiệu Phật A-di-đà’, cho nên nói ‘thuận theo bản nguyện của Phật’.

Bởi vậy, ‘nhất tâm chuyên niệm’ tức là ‘nương vào nguyện lực Phật A-di-đà’; nếu không ‘nhất tâm chuyên niệm’ thì không nương vào nguyện lực Di-đà, vì ‘không thuận theo bản nguyện Phật A-di-đà. Trọng tâm của hai loại tin sâu, năm loại chánh hạnh, chính là cốt lõi của Quán kinh, cho nên Quán kinh tuy nói rộng mười ba pháp quán thuộc về Định thiện và tam phước, chín phẩm thuộc về Tán thiện, nhưng đến ‘phần Lưu thông’ thì Đức Thích Tôn loại bỏ Định thiện và Tán thiện, mà chỉ nói ‘trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’ để lưu truyền ở đời hiện tại và đời vị lai lâu xa.

Đại sư Thiện Đạo cũng giải thích là ‘phần trên tôi tuy nói về sự lợi ích của hai môn Định thiện và Tán thiện, nhưng căn cứ vào bản nguyện của Phật A-di-đà, thì ý của kinh này nằm ở chỗ chúng sanh phải nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’. Thế nên biết: Hai loại tin sâu, năm loại chánh hạnh này, theo ý của Đức Thế Tôn chính là quay về với ‘nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’. Vì thế, phải tin ‘nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’ thì nhất định được vãng sanh, vì đây là nghiệp chánh định, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà, vì nương vào nguyện lực của Ngài.

  1. Nguyện lực Phật A-di-đà là tăng thượng duyên, chúng sanh niệm Phật tức là nương nhờ

‘Nhân’ gặp ‘duyên’ thì ‘quả’ hiện, nương vào duyên khác nhau thì quả cũng khác nhau.

Ví dụ như ‘carbon’ gặp áp suất và nhiệt độ bình thường sẽ thành ‘than đá’.

Nếu như tăng lên 2 nghìn độ, 55 nghìn atmosphere thì thành ‘đá kim cương

Nếu nước dưới 0°C  thì sẽ thành ‘khối băng’, nếu lên đến 100°C sẽ thành  ‘thể hơi’

Nếu ‘hạt giống’ gặp phải lửa thì sẽ bị cháy, sẽ vĩnh viễn chết mất, nếu gặp duyên đất nước và khéo vun trồng thì sẽ sanh trưởng không ngừng.

Hàng phàm phu tội ác gặp duyên bình thường thì vẫn ở trong ba đường sáu nẻo, vẫn là hàng phàm phu tạo nghiệp ác phải nhận lấy khổ nạn.

Vả lại, chín phẩm trong Quán kinh, tuy có ba duyên khác nhau là gặp duyên lớn, gặp duyên nhỏ, gặp duyên ác, vì thế bên ngoài hiện rõ có sai khác về phẩm bậc thiện ác. Nhưng thực chất bên trong vẫn là phàm phu, chìm đắm trong biển khổ sanh tử, vì thế Đại sư Thiện Đạo xác định ‘chín phẩm đều là phàm phu’. Phật pháp Đại thừa và Phật pháp Tiểu thừa, nói theo căn cơ Thánh đạo môn, thì dĩ nhiên ‘Tiệm và Đốn đều thích nghi với từng căn cơ, tùy duyên mà giải thoát’ trở thành duyên thoát ly sanh tử. Nhưng nói theo hạng phàm phu thuộc chín phẩm thì gặp duyên cũng như không gặp, vẫn là duyên thông thường, chứ không trở thành nhân giải thoát.

Đại sư nói: “Phàm phu tội ác trong sanh tử từ nhiều kiếp cho đến nay thường chìm đắm lưu chuyển không có nhân duyên để giải thoát”.

Lại nói: “Nương vào hạnh tạp thiện thì e rằng khó vãng sanh”. Hàng phàm phu tội ác như vậy, nếu chẳng phải Đức Thế Tôn A-di-đà phát khởi ‘ý đặc biệt của hoằng nguyện’ làm duyên mạnh mẽ để thoát ly sanh tử, thì tất cả con đường giải thoát đều bị đoạn tuyệt, vĩnh viễn chìm đắm trong hố sâu sanh tử.

Trong Pháp sự tán, Đại sư Thiện Đạo nói: “Chính vì không gặp được duyên mạnh mẽ tốt đẹp nên bị luân hồi, khó được độ thoát”.

Nhưng, hàng phàm phu thiện ác vĩnh viễn khó được độ thoát này, nếu họ có thể gặp được đại nguyện, đại hạnh, đại lực của Phật A-di-đà làm tăng thượng duyên, thì tất cả đều được vãng sanh thành Phật.

Bồ-tát Thiên Thân nói: “Quán sức bản nguyện của Phật, người gặp được thì không luống uổng”. Vì thế, cái duyên để hàng phàm phu thoát ly sanh tử, đây chính là bản nguyện của Phật A-di-đà.

Đoạn văn ‘xác định hai môn là yếu môn và hoằng nguyện’ trong ‘phần Huyền nghĩa’, Đại sư Thiện Đạo nói:

  1. Tất cả phàm phu thiện hay ác được vãng sanh, không ai không nương vào đại nguyện, đại hạnh, đại lực của Phật A-di-đà làm tăng thượng duyên cả.

Lại nữa, đoạn văn ‘phàm phu nhập Báo độ’ nói:

  1. Nhờ bản nguyện của Phật để làm duyên mạnh mẽ, nên làm cho năm thừa đều vào được.

Nhưng hàng phàm phu thiện ác làm thế nào để nương vào đại nguyện, đại hạnh, đại lực của Phật A-di-đà làm tăng thượng duyên?
‘Văn ba duyên’ trong phần ‘Định Tán nghĩa’, Đại sư Thiện Đạo đáp rằng:

  1. Chúng sanh xưng niệm thì trừ được tội trong nhiều kiếp, lúc sắp mạng chung được Phật và thánh chúng tự đến tiếp dẫn, các nghiệp quấy không làm chướng ngại, ràng buộc được, cho nên gọi là Tăng thượng duyên.

Vì thế nên biết: ‘Chỉ niệm danh hiệu Phật’ tức là ‘nương vào’ đại nguyện, đại hạnh, đại lực của Phật A-di-đà làm ‘Tăng thượng duyên’ thì chắc chắn vãng sanh. Như trong Quán kinh nói: “Người tạo tội thập ác ngũ nghịch là kẻ ngu muội đầy đủ các điều bất thiện, vì nghiệp ác nên đọa vào đường ác, lúc sắp mạng chung, các lửa địa ngục cùng một lúc đều kéo đến, gặp vị thiện tri thức chỉ dạy xưng danh hiệu Phật, ngay lập tức lửa dữ địa ngục hóa thành gió mát trong lành, lúc đó liền lên đài sen, vãng sanh thế giới Cực Lạc”. Vĩnh viễn xa lìa thân nghiệp vô thường trong sanh tử, chắc chắn chứng được thân Phật thường trụ Niết-bàn.

Thật đúng vậy! Cần phải biết duyên quan trọng như thế.
Đại sư Thiện Đạo còn nói:

  1. Đức Phật A-di-đà vốn phát ra thệ nguyện sâu nặng, lấy danh hiệu quang minh để nhiếp hóa chúng sanh trong mười phương, chỉ cần có tín tâm niệm Phật; trên suốt cả cuộc đời, dưới đến mười tiếng, một tiếng… nhờ nguyện lực của Phật mà dễ được vãng sanh (Vãng sanh lễ tán).
  2. Chỉ có chúng sanh nào chuyên niệm Phật A-di-đà, thì ánh sáng của Phật thường chiếu đến người ấy, nhiếp hộ không bỏ; nói chung, chẳng nói đến chiếu soi nhiếp thọ những hành giả tu tạp hạnh khác, thì đây cũng là Tăng thượng duyên hiện đời được hộ niệm(Quán niệm pháp môn).
  3. Sắc thân Di-đà như núi vàng, tướng hảo quang minh chiếu mười phương; chỉ có niệm Phật ánh sáng nhiếp, nên biết bản nguyện mạnh vô cùng (Vãng sanh lễ tán).
  4. Nhờ nguyện lực của Phật nên diệt được tội ngũ nghịch thập ác, mà được vãng sanh; người phỉ báng chánh pháp và Nhất xiển-đề, nếu hồi tâm thì đều được vãng sanh(Pháp sự tán).
  5. Ngũ nghịch báng pháp tạo mười nghiệp ác, hồi tâm niệm Phật tội đều trừ.

Kiếm bén là danh hiệu A-di-đà, một tiếng xưng niệm tội đều tiêu (Bát-chu tán).

Đại sư Từ Mẫn nói:

  1. Chỉ cần hồi tâm siêng niệm Phật, khiến cho ngói đá biến thành vàng.

  XII. Nội dung của Quán kinh, dùng Thí, Khai, Phế để dẫn Thánh đạo môn vào Tịnh độ môn

Nghiên cứu kỹ về nội dung của Quán kinh và khảo sát nhân duyên mà Đức Phật nói kinh này, thì chúng ta biết “Quán kinh” có ba nghĩa ‘Thí, Khai, Phế ‘từ giả vào chân’. Nói Thí, Khai, Phế tức là:

  1. Vì thật nên bày quyền (vì gương sen nên có hoa sen)—Hai hạnh thiện Định và Tán.
  2. Mở quyền hiển thật (hoa sen nở, gương sen hiện)—Trong hạnh Định và Tán có nói niệm Phật.
  3. Bỏ quyền lập thật (cánh sen rụng, gương sen thành)—Bỏ Định thiện và Tán thiện lập niệm Phật trong phần Lưu thông.
    Văn ‘Định, Tán’ nói về niệm Phật:

1.‘Pháp quán thứ chín’ trong phần Định thiện nói: “Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ”.

2.‘Pháp quán thứ mười hai’ trong phần Định thiện nói: “Phật Vô Lượng Thọ hóa thân vô số, cùng với Bồ-tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, thường đến cõi này, chỗ của người niệm Phật”.

3‘Hạ phẩm hạ sanh’ trong phần Tán thiện nói: “Bậc trí còn dạy chắp tay trước ngực, xưng Nam-mô A-di-đà Phật”.

4-Lại nói: “Hóa Phật khen rằng: Này thiện nam tử! Vì ông xưng danh hiệu Phật, nên các tội đều tiêu diệt, Ta đến đón ông”.

5-‘Hạ phẩm trung sanh’ trong phần Tán thiện nói: “Thiện tri thức ca ngợi ánh sáng thần lực của Phật A-di-đà, nghe rồi liền vãng sanh”.
6. ‘Hạ phẩm hạ sanh’ trong phần Tán thiện nói: “Nên xưng Nam-mô A-di-đà Phật”.

Văn nói về bỏ Định thiện và Tán thiện thiết lập niệm Phật trong ‘phần Lưu thông’:

‘Phần Lưu thông’ nói: “Nếu là người niệm Phật thì nên biết người đó là hoa Phân-đà-lợi trong cõi người; Bồ-tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí là bạn tốt của người ấy; sẽ ngồi đạo tràng, sanh về nhà chư Phật”.

Lại nói: “Phật bảo: A-nan! Ông khéo thọ trì lời này, thọ trì lời này, tức là thọ trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ”.

Văn của ‘phần Lưu thông’, Đức Thích Tôn không nói về mười ba pháp quán ‘Định thiện’ trong ‘quán thân Phật Vô Lượng Thọ’, mà nói ‘xưng danh niệm Phật’ trong ‘trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’. Vì thế, chúng ta biết rõ ý của Đức Thích Tôn, mục đích không nằm ở hai hạnh thiện Định thiện và Tán thiện, mà dùng Định, Tán để dẫn dắt người của Thánh đạo môn quay về Tịnh độ môn, cho nên phần sau cuối lại nêu ra hạnh xưng danh niệm Phật (cũng chính là trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ) trong nguyện thứ mười tám nói ‘cho đến mười niệm’ trong kinh Vô Lượng Thọ. Bởi vậy, Đại sư Thiện Đạo giải thích đoạn văn này, đưa ra kết luận chung về Quán kinh và một đời giáo pháp của Phật mà nói:

“Ở trên tôi tuy nói về sự lợi ích của hai môn Định, Tán, nhưng căn cứ vào bản nguyện của Phật A-di-đà, thì ý của kinh này nằm ở chỗ chúng sanh phải Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà”.
Có thể biết sự lợi ích của pháp ‘Quán tưởng’ được nói trong Quán kinh, cũng nằm ở trong việc xưng danh niệm Phật. Thế nên, phần giải thích ‘quán Chân thân Phật thứ chín’, Đại sư Thiện Đạo nói về sự lợi ích “Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ”, tức là sự lợi ích của ‘xưng danh niệm Phật’, cũng chính là ‘niệm Phật’, tức là ‘xưng danh niệm Phật’. Ngoài phần ‘nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’ được nói ở phần trên ra, còn có nhiều đoạn văn khác như Quán kinh sớ giải thích đoạn ‘Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ’ trong phần ‘quán Chân thân Phật thứ chín’ mà nói:

  Hỏi: Nếu người tu tập đầy đủ các hạnh nhưng chỉ cần hồi hướng thì đều được vãng sanh, tại sao ánh sáng của Phật chiếu khắp mà chỉ nhiếp thủ người niệm Phật, điều này có ý nghĩa như thế nào?

Đáp: Điều này có ba nghĩa:

  1. Nói rõ Thân duyên (duyên thân thiết): Chúng sanh khởi hạnh niệm Phật, miệng thường xưng danh hiệu Phật thì Phật liền nghe người đó niệm Phật. Thân thường lễ kính Phật thì Phật liền thấy người đó lễ Phật. Tâm thường niệm Phật thì Phật liền biết người đó niệm Phật. Chúng sanh nghĩ đến Phật thì Phật cũng nghĩ đến chúng sanh. Ba nghiệp của Phật và ta không xa rời nhau, cho nên gọi là Thân duyên.
  2. Nói về Cận duyên (duyên gần gũi): Chúng sanh muốn thấy Phật thì Phật cảm ứng hiện ra trước mắt người đó, cho nên gọi là Cận duyên.
  3. Nói về Tăng thượng duyên (duyên tăng thượng): Chúng sanh xưng niệm danh hiệu Phật thì trừ được nhiều kiếp tội chướng, lúc sắp mạng chung được Phật và thánh chúng tự nhiên đến tiếp dẫn, các nghiệp tà ác trói buộc không thể làm chướng ngại sự vãng sanh, cho nên gọi là Tăng thượng duyên.

Các hạnh khác tuy gọi là thiện, nhưng nếu so với niệm Phật thì hoàn toàn không thể sánh bằng. Thế nên, các kinh đều ca ngợi công năng niệm Phật.

Như nguyện thứ mười tám trong kinh Vô Lượng Thọ chỉ nói chuyên niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà thì sẽ được vãng sanh.
Lại nữa, kinh A-di-đà nói một ngày cho đến bảy ngày niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì được vãng sanh.

Lại nữa, Hằng sa chư Phật trong mười phương chứng minh lời Đức Phật Thích-ca nói là không hư dối.

Lại nữa, trong văn Định thiện và Tán thiện của kinh Quán Vô Lượng Thọ chỉ nêu ra chuyên niệm danh hiệu thì được vãng sanh, những thí dụ như thế  chẳng phải ít.

Từ phần trên, chúng ta có thể biết: Trong ‘phần Lưu thông’, Đức Thích Tôn nói ‘trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’ và Đại sư Thiện Đạo giải thích là ‘căn cứ theo bản nguyện của Phật A-di-đà, thì ý của kinh này nằm ở chỗ chúng sanh phải nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’, đây không chỉ là kết luận của Quán kinh, mà cũng là kết luận chung về một đời giáo pháp của Phật, đã nương vào bản nguyện trọng yếu của nguyện thứ mười tám trong kinh Vô Lượng Thọ, lại nêu ra phần tựa kinh A-di-đà là kinh Vô vấn tự thuyết.

XIII. Năm bộ chín quyển, tông chỉ nhất quán, bản nguyện xưng danh, phàm phu vãng sanh vào Báo độ

‘Năm bộ chín quyển’ của Đại sư Thiện Đạo, pháp môn rộng lớn, nghĩa lý cao siêu, vì hướng dẫn người đương thời, cho nên nội dung đó có chân thật (chân), có phương tiện (giả). Người mới học, nếu không biết chân giả, không có vị thiện tri thức chỉ dạy, thì dù bản thân mình có đọc hết năm bộ chín quyển nhưng cũng khó mà biết được phương châm, chỗ quay về. Nếu không biết năm bộ chín quyển nói điều gì thì làm sao thực hành được?

Vì thế, cương yếu của Quán kinh tứ thiếp sớ, sử dụng tư tưởng tông Tịnh Độ của Đại sư Thiện Đạo để nêu ra nội dung chính, bàn về điểm quan trọng của nó, để cho hành giả xem qua liền hiểu rõ: Bất luận người nào nếu tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện sanh về Tịnh độ Phật A-di-đà thì trăm người niệm Phật thì trăm người được vãng sanh, nghìn người niệm Phật thì nghìn người vãng sanh, đều sanh về Báo độ của Phật A-di-đà. Nói một cách đơn giản là ‘bản nguyện xưng danh, phàm phu vãng sanh vào Báo độ’. Nói ‘căn cứ theo bản nguyện của Phật A-di-đà, thì ý của kinh này nằm ở chỗ chúng sanh phải nhất hướng chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà’. ‘Nương vào bản nguyện của Phật làm duyên mạnh mẽ, khiến cho năm thừa đều vào được’. Đây là tông chỉ nhất quán, luận điểm chính xác trong năm bộ chín quyển của Đại sư Thiện Đạo. Năm bộ chín quyển đều nói một việc này, không nói việc khác, chỉ có đây là chân thật, còn những việc khác đều là phương tiện. Phương tiện tuy nhiều nhưng chân thật chỉ có một mà thôi.
Ở đây trình bày logic tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Thiện Đạo như sau:

Hai môn, hai thiện, hai tín→hai hạnh→hai nghiệp→Chánh định nghiệp (bản nguyện xưng danh).

Chánh định nghiệp’ tức là ‘chuyên xưng danh hiệu Phật’, vì nhờ sức danh hiệu bản nguyện chắc chắn vãng sanh về Báo độ ở cõi nước Cực Lạc. Đây tức là nghĩa ‘bản nguyện xưng danh, phàm phu vãng sanh vào Báo độ’.

Đương nhiên Đại sư là bậc căn khí Tổ sư, Phật thánh thị hiện, cho nên việc tự tu hành của ngài trác tuyệt vượt hẳn hàng phàm phu. Nhưng bất luận Đại sư tự tu hành như thế nào đi nữa thì kẻ trí người ngu, người thiện kẻ ác, sĩ nông công thương tùy theo căn tính của mình, đều lấy ‘nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà’ làm nhân hạnh vãng sanh, đây là điểm chung của tất cả mọi người, xưa nay đều giống nhau, cũng là tư tưởng nhất quán của Đại sư. Vì thế, chỉ cần có thể tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện sanh về cõi Tịnh độ của Phật A-di-đà, nói theo phương diện chứng quả thì trí thiện của Đại sư không tăng trưởng, sự ngu ác của chúng ta cũng không suy giảm, ngay nơi đời này đồng vãng sanh Cực Lạc, đều chứng được ánh sáng, thọ mạng vô lượng, cùng nhân cùng quả, đúng là ‘năm thừa đều vào được’. Vì thế, Pháp sự tán quyển thượng, nói: “Trời người thiện ác, đều được vãng sanh, đến cõi kia không khác, đều được bất thoái”. Đây không phải là nhân khác, đều là do sức bản nguyện của Phật A-di-đà, tức là ý nghĩa ‘bản nguyện xưng danh, phàm phu vãng sanh vào Báo độ’

Trích Bản Nguyện Niệm Phật

Thích Minh Tuệ

 

Viết một bình luận