Thiện Ác TT

39.Thiện Ác  TT

Sau khi Tỳ-kheo Pháp Tạng quán sát sự thiện, ác của chúng sanh trong mười phương, Ngài lại quán sát tính chất thô hay diệu của các nước ấy mà thấu hiểu rằng: Trong các cõi Tịnh độ có các sự thô hay diệu sai khác, không giống nhau. Nói cách khác, quốc độ chính là hình bóng của chúng sanh. Hình dài thì bóng nó dài, hình ngắn thì cõi đất cũng ngắn ngủi. Bóng do hình quyết định, bóng phụ thuộc vào hình, người lành thời cõi nước diệu, còn người ác thì ắt hẳn là cõi nước hèn kém.

Vì vậy, con người thiện hay ác chính là cái nhân sanh ra cõi nước nước thô hay diệu. Nói cách khác, cõi nước thô hay diệu chính là cái quả do con người tạo ra. Với mỗi một cái nhân thiện hay ác, với mỗi cái quả thô hay diệu của các cõi nước Phật, Tỳ-kheo Pháp Tạng đều suy nghĩ, phân biệt tỉ mỉ đến cùng cực, thấu đạt rốt ráo không ngằn mé; đó mới là thấu rõ Chân thật tế, biết rõ chân tướng sự thật của vũ trụ nhân sanh. Từ trong Chân thật tế ấy, Tỳ-kheo Pháp Tạng chuyên nhất Tự tâm, chọn lựa lấy ý nguyện độ sanh, khai hóa, hiển thị và nêu lên các thứ y báo, chánh báo trang nghiêm, pháp môn Tịnh độ chẳng thể nghĩ bàn, rồi kết thành đại nguyện để ban cho chúng sanh cái lợi chân thật.

Kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Tư duy rốt ráo liền được Nhất tâm.” Kinh Pháp Hoa lại chép: “Tín mãn thì thành Phật.” Do “đắc Nhất tâm” và “thành Phật” là cùng một nghĩa, nên “Tư duy rốt ráo” và “Tín mãn” cũng có cùng một ý nghĩa. Nghĩa đó là do cái tâm ấy thấu rõ chân tướng sự thật của vũ trụ nhân sanh là không, thiện và ác cũng đều là không, nên chẳng còn một niệm nào khác duy trừ chỉ có một niệm Tín tâm; đấy gọi là Nhất tâm. Nhất tâm chính là Chân như và cũng là cái nhân chân thật của Báo độ thanh tịnh, vì sao? Vì có Nhất tâm thì mới có thể kết thành đại nguyện, nên kinh này nói một mạch:

Tư duy rốt ráo liền được Nhất Tâm, chọn các điều muốn, kết thành nguyện lớn.” Lại nữa, nếu hành nhân đạt được sự Nhất tâm thì mười phương thế giới sẽ tự nhiên quy về một chỗ, thì đó lại Chân thật Trí huệ Vô vi Pháp thân, là Thường Tịch Quang độ. Tỳ-kheo Pháp Tạng dùng hạnh thanh tịnh tu tập trọn đủ năm kiếp để giữ lấy cõi Phật Tịnh độ nên mới thành tựu được đại nguyện của mình. Nói cách khác, Tỳ-kheo Pháp Tạng phải siêng năng cầu tiến, cung kính thận trọng, hết lòng gìn giữ, tu tập đầy đủ hết thảy công đức trong năm kiếp thì quốc độ được Ngài nhiếp thủ mới siêu việt các cõi Phật khác. Vì vậy, “năm kiếp tu hành” của Tỳ-kheo Pháp Tạng là thời gian tu hành và phát nguyện.

Trong năm kiếp tu hành ấy, Tỳ-kheo Pháp Tạng đối với các thứ công đức kỳ diệu, trang nghiêm thù thắng của hai trăm mười ức cõi Phật, đối với mỗi một thứ thiện, ác, thô, diệu sai biệt đều thông đạt rõ ràng như là một cõi Phật. Qua một thời gian dài lâu suy nghĩ, chọn lựa, tu tập, nhiếp thủ, Tỳ-kheo Pháp Tạng mới có thể kết thành Bốn Mươi Tám Đại Nguyện, ngõ hầu chỗ nhiếp nước Phật của Ngài siêu việt mười phương cõi Phật. Ở đây, kinh đã cực tả sự thù thắng độc diệu của cõi nước Cực Lạc và giải thích chỗ phương tiện độc lạ của Tha Lực pháp môn.

Sau khi nhiếp thọ cõi nước Tịnh độ xong rồi, Tỳ-kheo Pháp Tạng lại đến chỗ của đức Thế Gian Tự Tại Vương Phật, cúi đầu dưới chân Phật, kế đó nhiễu Phật ba vòng để biểu thị ý sự trân trọng hành lễ. Nhiễu xong, liền chắp tay đứng yên trước Phật, hướng về đức Phật bạch rằng: “Con đã thành tựu, trang nghiêm nước Phật, các hạnh thanh tịnh.” Phật Thế Gian Tự Tại Vương biểu lộ sự vui mừng rất sâu xa và khen rằng: Lành thay! Hạnh của Tỳ-kheo Pháp Tạng thật là vừa ý thánh tâm, thông suốt bổn hoài của chư Phật, ứng hợp trọn vẹn hết thảy các căn cơ. 

Đức Phật còn bảo Tỳ-kheo Pháp Tạng, nay thời cơ đã đến lúc chín muồi để quy hội ba thừa về thành một thừa, hành giả trong cả ba thừa đều cùng được hưởng xe trâu trắng lớn, cùng được nhập một Như Lai thừa. Vì muốn cho thập phương cửu giới chúng sanh đều cùng nhập Nhất thừa Đại thệ Nguyện Hải của Phật Di Ðà, hết thảy hàm linh đều được độ thoát, nên Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai khuyên Tỳ-kheo Pháp Tạng nên tuyên thuyết sự thành tựu của mình, để toàn bộ đại chúng cùng được hưởng lợi ích lớn lao. Hai chữ “đại chúng” ở đây bao gồm đại chúng đang hiện diện khi ấy lẫn hết thảy phàm phu, Nhị thừa và Bồ-tát trong đời tương lai. Phàm phu chúng ta ngày nay cũng nằm trong số đại chúng này.

Tỳ-kheo Pháp Tạng sau khi tự nói ra Đại Nguyện và sự thành tựu cõi Tịnh độ của mình xong, khiến cho khắp tất cả đại chúng trong mười phương suốt cả ba thời quá khứ, hiện tạivị lại đều cùng được nghe, đều cùng sanh tâm hoan hỷ phát nguyện vãng sanh, mau vượt khỏi biển khổ sanh tử. Lại nữa, sau khi nghe xong pháp này, họ đều được hưởng lợi ích chân thật và cùng nhau phát cái nguyện của A Di Ðà Phật, học cái hạnh của Tỳ-kheo Pháp Tạng nhiếp thủ cõi Phật Tịnh độ, viên mãn đại nguyện.

Đại Nguyện của Tỳ-kheo Pháp Tạng viên mãn hết thảy chí nguyện của tất cả chúng sanh, nên kinh chép là đầy đủ viên mãn, vô lượng nguyện lớn.” Vì sao? Bởi vì khi chúng sanh viên mãn một nguyện vãng sanh Tịnh độ thì cũng chính là viên mãn hết thảy các chí nguyện; đấy chính là tâm tủy của hết thảy chư Phật. Đại nguyện do Tỳ-kheo Pháp Tạng trong cả năm kiếp siêng năng gắng gỏi tìm cầu, chọn lọc, thật ra chỉ là một nguyện, nguyện ấy nhằm khiến cho hết thảy chúng sanh chân thật phát khởi ý nguyện cầu vãng sanh Tịnh độsau khi vãng sanh Tịnh độ rồi thì quyết định thành Phật. Nói cách khác, nguyện tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh Cực Lạc một đời thành Phật là thật, còn tất cả các nguyện khác đều là giả nếu đem so sánh với nguyện này. Vì vậy, phàm phu chúng ta trong đời Mạt pháp, chỉ cần viên mãn nguyện vãng sanh thì liền xứng hợp với Di Ðà Đại Nguyện, liền được nhập vào trong Nhất thừa Nguyện Hải, liền cùng một thể với Di Ðà Đại Nguyện, nên kinh dùng câu “đầy đủ viên mãn, vô lượng nguyện lớn” để kết thúc Phẩm kinh này, cũng là kết thúc chí nguyện độ tận hết thảy chúng sanh đồng thành Phật quả của Tỳ-kheo Pháp Tạng.

 Những gì là phương tiện, những gì là đường thẳng chóng? Chính là từ quả khởi tu, thẳng đến cứu cánh. Pháp môn Tịnh độ thật là một Tha Lực môn chẳng thể nghĩ bàn vậy!

Tỳ-kheo Pháp Tạng tuân lời chỉ dạy của Thế Gian Tự Vương Như Lai, đối trước đại chúng tuyên thuyết những nguyện lớn mà Ngài đã phát; đó là Bốn Mươi Tám Đại Nguyện công đức thành tựu mà chỉ quy về một Chánh Giác, đó là sáu chữ hồng danh “Nam Mô A Di Ðà Phật.” Nam Mô” nghĩa là quay về nương tựa. “A Di Đà Phật” nghĩa là Chánh Giác“Nam Mô A Di Ðà Phật” có nghĩa là quay về nương tựa quả Chánh Giác của A Di Đà Như Lai để tự mình cũng thành Chánh Giác; đấy gọi là từ quả hướng nhân! Mà Chánh Giác có nghĩa là giác mà không mê, nên người niệm Phật phải có trí tuệ, chẳng nên vọng tưởng, si , thì câu niệm Phật mới có thể sanh ra diệu lực.

Bốn Mươi Tám Ðại Thệ Nguyện của Tỳ-kheo Pháp Tạng, diệu đức khó thể lường nổi, nên được gọi là Nhất thừa Hoằng Thệ Bổn Nguyện Hải hay Bi Nguyện Nhất thừa.  Nếu xét về mặt Pháp thân, thì Bốn Mươi Tám Đại Nguyện là sở chứng của Phật A Di Đà hiển bày trọn vẹn Chân thật Trí huệ Vô vi Pháp thân Phật.  Nếu xét về mặt độ sanh thì Bốn Mươi Tám Nguyện đều là để nhiếp thọ chúng sanh vãng sanh Cực Lạc cứu cánh Phật quả; vì thế cho nên mỗi nguyện trong Bốn Mươi Tám Đại Nguyện đều dung chứa lẫn nhau chẳng thể nghĩ bàn.

Mục đích chúng ta học tập, ghi nhớ và quán chiếu từng mỗi nguyện trong Bốn Mươi Tám Nguyện là để hiểu rõ tường tận nguyện tâm của đức Phật A Di Đà, để tự thân có thể lưu nhập vào trong Nhất thừa Hoằng Thệ Bổn Nguyện Hải của Phật, tức là lấy Đại Nguyện của Phật làm nguyện tâm của mình để thành tựu sở chứng, hiển bày trọn vẹn Pháp thân giống như Phật A Di Đà. Đây là việc thiện tối thượng, là việc thiện bậc nhất, chẳng có việc thiện nào hơn được việc thiện này, nên phẩm Nhân Địa Pháp Tạng của kinh này ghi: “Ví như cúng dường hằng sa thánh, chẳng bằng vững mạnh cầu Chánh Giác.”

Diệu Âm Trí Thành

Thích Minh Tuệ

 

Viết một bình luận