Tư Tưởng Tịnh Độ Của Thiện Đạo Đại Sư (TT)

40. 2.2. Luận về đối tượng được vãng sanh Báo độ

 

             Đại sư Thiện Đạo khẳng định rằng chúng sanh nhờ tác dụng từ nguyện lực của Đức Phật A-di-đà mới có thể vãng sanh về quốc độ của Ngài.

Nói về cõi nước của Đức Phật A-di-đà là chỉ cho thế giới Báo độ của Ngài. Để lý giải trọn vẹn tư tưởng của Đại sư Thiện Đạo về Báo độ, không thể thiếu việc giới thiệu tóm tắt quan điểm của giới Phật giáo đối với Tịnh độ. Giới

học giả Phật giáo Trung Quốc có ba quan niệm tiêu biểu về Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà.

Thứ nhất, cho rằng Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà là ‘sự Tịnh độ’, đó là Tịnh độ mà phàm phu tu hành đạt được, quan điểm này thừa nhận phàm phu có thể vãng sanh về Tịnh độ. Các ngài Tịnh Ảnh Huệ Viễn, Đại sư Trí Giả của tông Thiên Thai và ngài Cát Tạng thuộc Tam Luận tông đều chủ trương quan điểm này.

Thứ hai, cho rằng Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà là Báo độ, đó là cõi nước mà Đức Phật A-di-đà tu hành đạt được, chỉ có các Đức Phật và hàng Bồ-tát mới có thể vãng sanh, phàm phu không có phần. Đây là quan điểm của Nhiếp Luận sư.

Thứ ba, cho rằng Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà vừa là Báo độ, vừa là Hóa độ. Hóa độ là cõi nước được Đức Phật biến hóa ra để độ khắp chúng sanh, đây là chỗ ở độ chúng sanh vãng sanh về, còn Đức Phật thì ở tại thế giới Báo. Các ngài Ca Tài, Nguyên Hiểu chủ trương quan điểm này
Cả ba quan điểm kể trên đều có một điểm chung là không thừa nhận phàm phu có thể vãng sanh về Báo độ.


         Đại sư Thiện Đạo có cách nhìn riêng, không giống những quan điểm nêu trên, không những ngài cho rằng Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà là Báo độ, mà còn thừa nhận hàng phàm phu cũng được vãng sanh về cõi này.

Nói Báo độ, Hóa độ là căn cứ theo thuyết tam thân của Đức Phật, tam thân Phật là Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. Pháp thân là thân chân thật của Đức Phật, đó là sự tồn tại không thể nghĩ bàn; Báo thân là Đức Phật hiện hữu trong thế giới thanh tịnh, chứng đắc bồ-đề vô thượng; Hóa thân là Đức Phật hiện hữu trong thế giới uế trược mà chứng đắc bồ-đề vô thượng.

Đại sư Thiện Đạo cho rằng quốc độ của Đức Phật A-di-đà là Báo độ, là Tịnh độ được thành tựu nhờ quá trình tu tập từ nhân địa quá khứ của Đức Phật, đó là Tịnh độ mà Báo thân Phật cư trú. Lý do đầu tiên là vì Đức Phật A-di-đà không có thân bát tướng, thân bát tướng này là tiêu chí hóa thân của các Đức Như Lai. Nghĩa là chư Phật vì muốn độ khắp chúng sanh, trước sau sẽ thị hiện qua tám giai đoạn:

Bồ-tát từ cung trời Đâu-suất giáng hạ đến thế giới Ta-bà, nhập thai, trụ thai, xuất thai, thành đạo, chuyển pháp luân (truyền pháp), nhập niết-bàn. Vì Đức Phật A-di-đà không có tám tướng này nên thân Ngài là Báo thân chứ không phải Hóa thân.

Tiếp theo, Đại sư Thiện Đạo cho rằng thân của Đức Phật A-di-đà là thân đáp ứng với nhân, cho nên là Báo thân. Kinh Vô Lượng Thọ có nói về việc Bồ-tát Pháp Tạng phát nguyện: “Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương xưng danh hiệu của Tôi, chuyên nhớ nước Tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước Tôi mà chẳng được toại nguyện thì Tôi không thành Chánh giác”.

Đại sư Thiện Đạo nói: “Hiện tại, Bồ-tát Pháp Tạng đã thành Phật, tức là thân đáp ứng với nhân”. Nhưng thân đáp ứng với nhân cũng có hai loại là Báo thân và Hóa thân: Báo thân là sự tồn tại nhờ sự tu nhân mà cảm được quả làm thể, Hóa thân là sự tồn tại tùy duyên thị hiện.

Đức Phật A-di-đà không phải là tùy duyên thị hiện, cho nên Đại sư Thiện Đạo cho rằng thân đáp ứng với nhân địa tu hành của Ngài là Báo thân.

Kế đến, Đại sư Thiện Đạo lại dẫn chứng Quán kinh. Trong Quán kinh, đề cập việc khi lâm chung, hạng người đắc ba phẩm bậc thượng sẽ được: “Đức Phật A-di-đà cùng những vị hóa Phật đến tiếp đón”. Đại sư Thiện Đạo cho rằng, kinh văn đã xác định rõ rằng Đức Phật A-di-đà là Báo thân mà chẳng phải là Hóa thân, vì: “Thân của Phật Vô Lượng Thọ (Phật A-di-đà) vô biên, hạng phàm phu tâm lượng nhỏ hẹp không thể nào biết được”.

Theo quan điểm của Đại sư Thiện Đạo, vì chúng sanh căn cơ kém cỏi, nên chỉ có thể thấy được Hóa thân của Đức Phật A-di-đà thị hiện để nghinh tiếp, chứ không thể nào thấy được Báo thân cao diệu của Ngài.

Khi Đại sư Thiện Đạo khẳng định rằng thân của Đức Phật A-di-đà là Báo thân, thì ngài cũng gặp phải mâu thuẫn, đó là trong kinh Quán Âm thọ kí có đề cập đến việc Đức Phật A-di-đà cũng sẽ nhập Niết-bàn, như vậy, nếu nói rằng thân Phật Di-đà là Báo thân thì không khớp với báo thân Phật thường trụ bất diệt.

Về việc này, Đại sư Thiện Đạo giải thích như sau: Vấn đề Đức Phật A-di-đà nhập Niết-bàn hay không nhập Niết-bàn, đó là cảnh giới mà chỉ có Phật cùng Phật mới biết được. Vì khuyến khích chúng sanh tu hành nên Đức Phật mới nói Niết-bàn là bất diệt. Trên căn bản, Niết-bàn cũng là không, nó không phải là mục tiêu để chúng sanh hướng đến. Đại sư Thiện Đạo đặt trọng điểm tư tưởng của ngài ở chỗ phải giải quyết tốt nhất cho tầng lớp bình dân về vấn đề lý tưởng tốt đẹp mà họ nên truy cầu.

Theo ngài, Đức Phật A-di-đà có nhập Niết-bàn hay không nhập Niết-bàn, với tông Tịnh Độ thật sự không phải là vấn đề quan trọng, mà quan trọng là chúng sanh nên vãng sanh về thế giới Báo độ của Đức Phật để thọ hưởng hạnh phúc, vứt bỏ những khổ đau nơi trần thế.

Xét theo lý luận thông thường của Phật giáo, Báo độ là thế giới vô cùng tốt đẹp, chỉ có thánh nhân Đại thừa mới

có thể cư ngụ, hạng phàm phu tầm thường không đủ tư cách để đặt chân vào cõi này.

Nhưng Đại sư Thiện Đạo lại khẳng định chúng sanh cũng đến được thế giới Báo độ, cách giải quyết của ngài đặt căn bản trên nguyện lực của Đức Phật A-di-đà. Theo Đại sư Thiện Đạo, thế giới Báo độ của Đức Phật A-di-đà là kết quả từ sự tu hành của Bồ-tát Pháp Tạng trải qua thời gian rất dài lâu, đó là kết quả báo đáp lại hạnh nguyện của Ngài từ quá khứ.

Hạng phàm phu bình thường cũng có thể nương theo ngyện lực của Đức Phật A-di-đà, đột phá những hạn chế của bản thân, trực tiếp tiến vào thế giới Báo độ. Nếu phàm phu không thể vãng sanh về Báo độ của Đức Phật A-di-đà thì thệ nguyện của Bồ-tát Pháp Tạng cũng bằng không, và Ngài không thể thành Phật.

Trên thực tế thì Bồ-tát Pháp Tạng đã thành Phật, thệ nguyện của Ngài đã có kết quả, vậy thì phàm phu có thể vãng sanh

Quan điểm bản nguyện tha lực của Đại sư Thiện Đạo đã chứng minh rằng chúng sanh thời mạt pháp cũng có khả năng được vãng sanh về Báo độ cao tột của Đức Phật A-di-đà, khả năng này muốn biến thành hiện thực, phải có một phương pháp nhất định, đó chính là học thuyết niệm Phật của Đại sư Thiện Đạo.

  1. Tư tưởng niệm Phật

Sau khi tư tưởng niệm Phật được truyền vào Trung Quốc, trải qua quá trình từ quán tưởng niệm Phật, rồi sau đó mới thịnh hành chủ trương trì danh niệm Phật. Quán tưởng niệm Phật là chỉ cho một loại thiền định, tức là thông qua tịnh tọa nhập định, hành giả quán tưởng những tướng hảo và công đức oai thần của Đức Phật cùng sự trang nghiêm thù thắng trên cõi Tịnh độ của Ngài.

Trì danh niệm Phật tức là miệng xưng niệm danh hiệu Đức Phật, như nói: Người niệm danh hiệu Đức Phật được bảy vạn, mười vạn câu sẽ được thành Phật.

Ở Trung Quốc, tư tưởng niệm Phật vào thời kỳ đầu thông thường là quán tưởng niệm Phật, nhân vật tiêu biểu trong giai đoạn này là ngài Lô Sơn Huệ Viễn, một vị danh tăng thời Đông Tấn. Quan điểm niệm Phật của ngài Huệ Viễn xuất phát từ nhân quả báo ứng, tín ngưỡng Tịnh độ Di-đà, hy vọng vãng sanh Tịnh độ Tây phương, thoát khỏi sự thống khổ của kiếp người.

Trong Niệm Phật tam-muội thi tập tự, hàm ý của ngài khi trình bày và phân tích quan điểm niệm Phật là nhằm làm sáng tỏ tính chất và tác dụng của niệm Phật tam-muội. Ngài cho rằng tam-muội chính là chuyên tư tịch tưởng, là một loại công phu thiền định: “Cho nên nay người nhập định này, vắng bặt thấy biết, khi đối duyên xúc cảnh, tâm thức chiếu soi tựa như gương”. Trong kinh Tọa thiền tam-muội, ngài đem niệm Phật tam-muội chia làm ba bước:

Thứ nhất, trước tiên quán nhìn tượng Phật, khiến toàn bộ tư duy của mình đều tập trung lên tượng Phật.

Thứ hai, trên nền tảng đó, quán tưởng những hình sắc tốt đẹp của Đức Phật.

Thứ ba, quán tưởng vô lượng trí huệ, công đức pháp thân của Đức Phật, đạt đến mức “chỉ chuyên quán tưởng hai việc: Thân Phật như hư không và công đức của Ngài, không xen tạp niệm nào khác, tâm được tự tại”.

Ngài Huệ Viễn cũng từng thỉnh vấn với ngài Cưu-ma-la-thập vấn đề niệm Phật tam-muội thế nào để thấy được trọn vẹn sắc tượng của Đức Phật, ngài đặt vấn đề: “Các kinh điển nói về thân tướng của Đức Phật đều mô tả rằng thân tướng của Phật có đầy đủ ánh sáng chiếu suốt mọi nơi, đoan nghiêm không gì bằng,…Pháp thân chân thật ấy có đúng như vậy chăng?”; ‘Phật sở duyên chính là pháp thân chân thật của Đức Phật, hay đó là thân biến hóa?’.

Có thể thấy, quan điểm niệm Phật của ngài Huệ Viễn

là quán tưởng niệm Phật chứ không phải là xưng danh niệm Phật.

Trong Lược luận an lạc Tịnh độ nghĩa, ngài Đàm Loan nói:

“Hoặc niệm danh tự Phật, hoặc niệm tướng hảo của Phật, hoặc niệm quang minh của Phật, hoặc niệm thần lực của Phật, hoặc niệm công đức của Phật, hoặc niệm trí huệ của Phật, hoặc niệm bản nguyện của Phật; không có niệm khác xen vào làm gián đoạn, tâm tâm nối tiếp nhau cho đến mười niệm gọi là thập niệm… khi lâm chung, vì xưng danh hiệu Đức Phật A-di-đà, nguyện sanh cõi An

Lạc, từng câu từng câu nối tiếp nhau, liền thành thập niệm… người này khi mạng chung liền được sanh về cõi An Lạc”.

Trong đoạn văn này, Đại sư Đàm Loan nêu ra hai phương pháp niệm Phật, đó là quán tưởng niệm Phật và xưng danh niệm Phật. Điều này cho thấy, dù quán tưởng niệm Phật vẫn chiếm vị trí chủ đạo nhưng Đại sư Đàm Loan đã bắt đầu hướng về xưng danh niệm Phật.

Đại sư Đạo Xước nắm bắt tình hình rất nhạy bén, đúng lúc tư tưởng mạt pháp hưng khởi, ngài căn cứ theo kinh Đại tập nguyệt tạng, đưa ra quan điểm: “Chư Phật Như Lai có vô lượng, hoặc Tổng hoặc Biệt, nếu chúng sanh nào nhiếp tâm xưng niệm thì không ai chẳng được trừ tội tăng phước, đều sanh ra ở trước Phật, đó là danh hiệu độ chúng sanh.

Tính ra chúng sanh thời nay, cách thời Đức Phật Thích-ca diệt độ đã là 500 năm thứ tư, chính là thời tu phước sám hối, xưng danh hiệu Phật. Vì một lần xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì có thể diệt trừ tội sanh tử trong 80 ức kiếp”

Trong Đạo Xước truyện, có nói ngài Đạo Xước khuyên người niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà, dùng hạt đậu nhỏ để đếm số lần niệm. Ngài còn dạy người niệm Phật xâu hạt mộc làm thành chuỗi để tính số. Tư tưởng xưng danh niệm Phật của Đại sư Đạo Xước có tác dụng mở đường để phát sanh ra pháp môn xưng danh niệm Phật của Đại sư Thiện Đạo sau này.

Đại sư Thiện Đạo kế thừa tư tưởng niệm Phật của Đại sư Đàm Loan, ngài đem nó hệ thống hóa, sắp xếp thành lý luận niệm Phật hoàn chỉnh. Nhìn chung, tư tưởng niệm Phật của Đại sư Thiện Đạo chủ yếu thể hiện trên những quan điểm sau.

      3.1. Thuyết tam tâm           Như đã đề cập ở trước, cho dù Đức Phật A-di-đà có nguyện lực rộng lớn, có thể độ khắp chúng sanh, nhưng nguyện lực này của Ngài cũng không thể tự phát khởi tác dụng lên chúng sanh được, nó đòi hỏi chúng sanh trước tiên phải có mong muốn được vãng sanh. Thuyết tam tâm mà Đại sư Thiện Đạo đề cập, chính là vị trí của chủ thể niệm Phật.

 

      3.1.1. Tâm chí thành

        Tâm chí thành tức là tâm chân thật, Đại sư Thiện Đạo nói: “Chí là chân, thành là thật”. Ngài cho rằng, chúng sanh phải lấy chân thật làm nền tảng để phát khởi tu hành trên cả ba phương diện: Thân, khẩu, ý; không thể “bên ngoài hiện tướng hiền thiện tinh tấn, bên trong ôm lòng giả dối”, cần 

Đức Phật A-di-đà khi còn là Bồ-tát, nhất cử nhất động, cho đến 48 nguyện của Ngài đều đặt nền tảng trên sự chân thật. Nay chúng sanh muốn nương vào Đức Phật A-di-đà để được vãng sanh thì nhất định phải lấy Phật A-di-đà làm gương để tu hành, nếu không thì không thể phù hợp với thệ nguyện của Ngài, hẳn nhiên sẽ không thể giải thoát.

Đại sư Thiện Đạo cho rằng ‘chân thật’ hàm ý trên hai phương diện, tức là chân thật tự lợi và ch

Người chân thật tự lợi là trong mỗi niệm đều xả bỏ các việc ác, xả ly uế độ và niệm niệm siêng tu các điều thiện. Nói về vấn đề siêng tu, tông Tịnh Độ lại lý giải trên hai phương diện: Tu thiện tức là dừng ác, mà dừng ác cũng chính là tu thiện, nên tu thiện và dừng ác đều quan trọng như nhau, không thể thiếu một trong hai.

Chân thật lợi tha, tức là chúng ta lấy việc bỏ ác song song với siêng năng hành thiện để gây ảnh hưởng đến cộng đồng, khiến cho họ bỏ ác làm lành, cũng siêng tu Tịnh độ giống như chúng ta. Cũng có nghĩa là: “Ta muốn làm nên

 thì giúp người làm nên, ta muốn thành đạt thì giúp người thành đạt”.

Đại sư Thiện Đạo cho rằng, trong toàn bộ việc tu hành thì tâm chân thật rất quan trọng. Người tu hành mà không có tâm chân thật là một thứ thiện tạp độc, là hành vi lừa gạt, một là lừa mình, hai là lừa người. Đức Phật A-di-đà là bậc toàn tri toàn năng, bất luận chúng sanh có hành vi giả dối ra sao đều không qua được pháp nhãn của Ngài.

Nếu chúng sanh dùng thiện tạp độc để cầu sanh Tnh độ, sẽ vĩnh viễn không đạt được mục đích. Người muốn vãng sanh Tịnh độ là người đã thật sự cảm nhận được một cách sâu sắc cuộc sống nhân sanh đau khổ, là vì muốn giải

thoát triệt để, là muốn thành toàn việc lớn của một đời người. Nếu ai tự lừa dối mình, mới chỉ xét trên mặt tự lợi, kết quả đã phải vĩnh viễn bị đọa trong biển khổ của kiếp người.

Nguy hại của việc tự lừa dối mình không chỉ giới hạn nơi tự thân kẻ đó, mà còn làm liên lụy đến người khác. Bởi vì trong lòng họ giả dối, nhưng bên ngoài lại hiện tướng siêng năng, mọi người nhìn thấy người nọ siêng năng như vậy mà còn không được vãng sanh, liền đâm ra nghi ngờ khả năng vãng sanh của mình.

Vô hình trung, người mà “bên ngoài hiện tướng hiền thiện tinh tấn, bên trong ôm lòng giả dối” kia đã làm ảnh hưởng tín tâm của mọi người đối với tín ngưỡng Tịnh độ, rốt cuộc làm trở ngại bước chân của chúng sanh tiến lên con đường giải thoát, tội này chẳng phải nhỏ!

Ngược lại, nếu tất cả đều xuất phát từ tâm chân thật của chúng ta, thì ngay đó đã đem đến cho người khác tấm gương vãng sanh, gián tiếp dẫn dắt mọi người quay về nương tựa vào Tịnh độ.

Theo một số sách ghi lại hành trạng của Đại sư Thiện Đạo, thì ngài đúng là một bậc mô phạm: “Hơn ba mươi năm ngài chưa từng đặt lưng xuống chiếu, rất ít ngủ nghỉ, trừ tắm rửa ra thì thân không rời ca sa; tu hạnh bát-chu tam-muội, lấy việc tụng kinh lễ Phật làm hạnh nghiệp, giữ gìn giới hạnh một mảy may cũng không phạm. Ngài chưa từng liếc mắt nhìn nữ nhân, không móng tâm danh lợi, cũng không từng có một lời nói đùa”.

Tinh thần của Đại sư Thiện Đạo ảnh hưởng rộng đến mọi tầng lớp trong xã hội thời bấy giờ, đến nỗi: “Tăng tục trong kinh thành và các châu, có người tự gieo mình từ núi cao xuống vực, hoặc có người tự trầm mình vào dòng suối sâu, hoặc có người tự gieo mình từ trên cành cây cao xuống, hay là thiêu thân cúng dường, xa gần cũng khoảng hơn trăm người.

Họ tu các phạm hạnh, xả bỏ vợ con, đọc tụng kinh A-di-đà từ mười vạn đến ba mươi vạn lần, niệm danh hiệu Phật một ngày được một vạn năm nghìn câu đến mười vạn câu, đắc niệm Phật tam-muội, những người được vãng sanh Tịnh độ nhiều không kể xiết”. Xem đây thì đủ biết, Đại sư Thiện Đạo có sức ảnh hưởng vô cùng lớn lao đối với quần chúng thời bấy giờ.

     3.1.2. Tâm tin tưởng sâu sắc

Trong Quán kinh sớ, Đại sư Thiện Đạo nói: “Nói thâm tâm, tức là tâm tin tưởng sâu sắc”. Thâm tâm còn gọi là thâm tín, tức là tâm tin tưởng sâu sắc, là có tín tâm sâu dày đối với Phật pháp. Đại sư Thiện Đạo rất xem trọng thâm tâm, ngài triển khai trình bày và phân tích trên hai phương diện chủ thể và khách thể.

Phương diện thứ nhất, Đại sư Thiện Đạo cho rằng chủ thể cần phải xác định tâm tin tưởng sâu sắc thế nào, tức là phải tin tưởng rằng chính ta đang là một phàm phu sống trong thời mạt pháp, cần phải phủ định hoàn toàn khả năng của tự thân, không thể nương vào sức của mình để được vãng sanh thành Phật.

                 Phương diện thứ hai, Đại sư Thiện Đạo lại từ phương diện khách quan xác lập tâm tin tưởng sâu sắc, nội dung có ba điểm

Phải tin tưởng tuyệt đối vào 48 nguyện nhiếp thọ chúng sanh của Đức Phật A-di-đà, chúng sanh nương vào nguyện lực của Phật, chắc chắn được vãng sanh.


       – Phải tin tưởng nhị thiện định tán, cửu phẩm, tam phước mà Đức Phật Thích-ca-mâu-ni đã nói trong Quán kinh.
– Tin tưởng sâu sắc kinh A-di-đà, chư Phật đến chứng tín cho việc xưng danh được vãng sanh.

Thông qua việc trình bày và phân tích chặt chẽ, Đại sư Thiện Đạo đã xác định tầm quan trọng của kinh điển Tịnh độ trong thời mạt pháp, ngài mong mỏi mọi người có niềm tin thật vững chắc đối với Tịnh độ.

Xét trên bề mặt, hai phương diện chủ thể và khách thể của thâm tâm có chút mâu thuẫn, Đại sư Thiện Đạo nhấn mạnh rằng trên thực tế hai phương diện này hoàn toàn thống nhất với nhau.

Theo Đại sư Thiện Đạo, chúng sanh tội ác sâu nặng khó có thể được cứu, bởi vì nhận thức trọn vẹn được trình độ của tự thân là vô cùng yếu ớt, dựa vào tự lực thì không có cách nào được giải thoát, nên họ có thể buông bỏ tất cả những thấy biết lệch lạc, một lòng trông mong vào nguyện lực từ bi của Đức Phật A-di-đà. Nhìn theo góc độ này thì chúng ta cách cõi nước Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà không xa. Ngược lại, nếu tự thị trình độ của mình là giỏi, không tin tưởng rằng ta là chúng sanh cần nương vào nguyện lực của Đức Phật A-di-đà thì giữa Ngài và chúng ta có khoảng cách rất xa.

Đại sư Thiện Đạo cho rằng một khi đã có được tâm thâm tín thì chúng ta sẽ chỉ một lòng tin tưởng vào lời Phật, trong kinh Đức Phật dạy như thế nào thì chúng ta vâng làm như thế ấy. Hẳn nhiên, sẽ xuất hiện những người lợi dụng kinh điển của Đức Phật để phê bình tình hình tín ngưỡng Tịnh độ. Đại sư Thiện Đạo cho rằng trước tiên chúng ta phải có tín tâm kiên cố không dao động; tiếp theo cần nhận thức rằng Đức Thế Tôn thuyết pháp luôn phù hợp trình độ thính chúng, kinh điển Tịnh độ là Như Lai nói cho chúng sanh thời mạt pháp, không nên dùng những kinh điển khác của Ngài để phê bình kinh điển Tịnh độ.

Tóm lại, chỉ cần chúng sanh khắc cốt ghi tâm rằng: Thân ta là phàm phu tội ác không có cơ hội giải thoát, chỉ nương vào nguyện lực của Đức Phật A-di-đà mới có thể được vãng sanh. Giữ được tín tâm không dao động thì đây chính là tiến trình để chúng sanh tu hành tiến vào Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà

Còn Tiếp

Trích Sách Bản Nguyện Niệm Phật

Thích Minh Tuệ

 

 

     

 

 

Viết một bình luận