Tư Tưởng Tịnh Độ Của Thiện Đạo Đại Sư (TT)

41.Tư Tưởng Tịnh Độ Của Thiện Đạo Đại Sư (TT)

      3.1.3. Tâm hồi hướng phát nguyện

Hồi hướng phát nguyện là một điểm rất đặc sắc của Phật giáo; hồi là hồi chuyển, hướng là thú hướng. Bất cứ ai thuộc tín đồ Phật giáo, khi tạo tác điều gì hữu ích cho Phật pháp đều nên hồi hướng phát nguyện, tức là hồi chuyển công đức mà ta đã tu hành được, hướng đến kỳ vọng vào bản thân. Trong tông Tịnh Độ có hai loại hồi hướng:

Một là vãng tướng hồi hướng, tức là đem công đức mà ta đã tạo tác chuyển tặng cho tất cả chúng sanh, hi vọng tất cả cùng đồng được vãng sanh về quốc độ của Đức Phật A-di-đà.

Hai là hoàn tướng hồi hướng, là sau khi vãng sanh về Tịnh độ, thành tựu tất cả công đức, vị Bồ-tát này sẵn lòng quay lại thế giới giới Ta-bà để giáo hóa chúng sanh, giúp họ quay về Tịnh độ.

Đại sư Thiện Đạo cho rằng thiện hạnh của vãng tướng hồi hướng có hai phương diện:

Một là thiện hạnh mà bản thân người đó đã tu tập được, bao quát tất cả công đức thiện hạnh đã được tạo tác từ quá khứ, hiện tại và tất cả công đức thiện hạnh đã được tạo tác từ thân, khẩu, ý của họ. Thiện hạnh thế tục tức là giới phước và hạnh phước. Giới phước là giữ đủ các giới đã thọ, không phạm oai nghi. Hạnh phước là phát tâm bồ-đề, tin nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người tu tập.

Một phương diện khác của vãng tướng hồi hướng là

tùy hỉ thiện hạnh. Tùy hỉ hàm nghĩa trên hai mặt:

Một là thấy người khác có điều vui, ta cũng tùy hỉ với niềm vui của người.

Hai là vui theo việc xả thí trong mọi hoàn cảnh. Ví dụ cũng là việc bố thí, nếu người giàu có thí xả tiền của, vải vóc; thì kẻ nghèo khó bố thí ngụm nước, bó rau… Tất cả đều xuất phát từ sự vui vẻ trong nội tâm

Phát nguyện là chỉ cho việc chúng sanh nên phát khởi thệ nguyện vãng sanh Tịnh độ. Trong tín ngưỡng Tịnh độ, sự phát nguyện có vị trí rất quan trọng, trong bộ kinh A-di-đà, Đức Phật trước sau ba lần khuyên chúng sanh nên phát nguyện.

Lần thứ nhất là sau khi mô tả sự trang nghiêm trên thế giới Tịnh độ Tây phương, Đức Thế Tôn khuyên: “Chúng sanh nghe như vậy, cần nên phát nguyện, nguyện sanh về nước kia”.

Lần thứ hai, khi khai thị: “Nghe nói về chấp trì danh hiệu Đức Phật A-di-đà”, Thế Tôn nói: “Chúng sanh nghe lời này, phải nên phát nguyện sanh về nước kia”.

Lần thứ ba, khi khai thị chúng sanh nên phát nguyện vãng sanh, Ngài nói:

 “Nếu có niềm tin, phải nên phát nguyện sanh về nước kia”.

Vì vậy, Đại sư Thiện Đạo nói: “Tâm thâm tín này cứng chắc như kim cang, một dạ nhất tâm, một lòng chính trực, không bị những kiến giải, những môn học khác, hay những người

      3.2. Thuyết xưng danh

Đại sư Thiện Đạo cho rằng chúng sanh là phàm phu, không thể dựa vào tự lực để đến được thế giới Báo độ cao diệu của Đức Phật A-di-đà, chỉ nhờ vào nguyện lực của Đức Phật mới có thể vào, và ngài cổ xúy rằng xưng danh chính là nguyện lực vĩ đại nhất. “Nam mô A-di-đà Phật” giống như chiếc cầu nối, xưa nay giữa chúng sanh và nguyện lực của Đức Phật bị ngăn cách, nhờ vào sáu chữ danh hiệu, hai bên được nối liền thông suốt với nhau.
Sau đây, chúng ta sẽ phân tích cụ thể đôi chút về tư tưởng xưng danh của Đại sư Thiện Đạo.

Trước hết, Đại sư Thiện Đạo thông qua xác định tông chỉ của Quán kinh, từ đó ngài đặt ra vị trí của xưng danh niệm Phật. Các vị Tịnh Ảnh Huệ Viễn và Cát Tạng cho rằng trọn bộ Quán kinh là nói về quán Phật tam-muội, Đại sư Thiện Đạo thì cho rằng Quán kinh là nói về niệm Phật tam-muội, trong đó mười ba đề mục quán phía trước là quán Phật tam-muội, là do Vi-đề-hi thỉnh Đức Thế Tôn nói cho hạng lợi căn; ba đề mục quán tiếp sau là pháp môn Thế Tôn tự thuyết để cứu độ chúng sanh.

Do mục đích của Quán kinh là Đức Phật tuyên nói cho chúng sanh thời mạt pháp, vì vậy, quán Phật tam-muội chính là Đức Phật kiến lập một loại giả thuyết về niệm Phật. Khi Đức Thế Tôn truyền trao Quán kinh cho tôn giả A-nan, Ngài chưa phó chúc quán Phật tam-muội, mà dặn dò rằng: “Ông nên ghi nhớ kỹ lời này, vâng giữ lời này cũng chính là thọ trì danh hiệu của Đức Phật Vô Lượng Thọ”.

Căn cứ theo đoạn văn kinh này, Đại sư Thiện Đạo cho rằng quán Phật tam-muội là thuyết phế, niệm Phật tam-muội là thuyết lập; vừa phế vừa lập, đó chính là tông chỉ niệm Phật của Quán kinh.

Kế đến, tư tưởng xưng danh của Đại sư Thiện Đạo còn được thể hiện qua cách ngài giải thích vấn đề mười niệm trước khi lâm chung. Văn Hạ phẩm hạ sanh trong Quán kinh có đoạn: “Người này bị khổ bức bách, không rảnh để niệm Phật, thiện hữu bảo:

Nếu anh không thể niệm Phật được, thì nên xưng danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật. Chí tâm xưng niệm âm thanh không dứt, đủ mười niệm xưng Nam mô A-di-đà Phật, do xưng danh hiệu Phật, nên trong mỗi một niệm tiêu trừ được tám mươi ức kiếp tội sanh tử. Trong một niệm cũng được vãng sanh về nước An Lạc”.

Đại sư Thiện Đạo cho rằng lâm chung thập niệm chính là xưng mười câu Phật. Trong tác phẩm Vãng sanh lễ tán, ngài cũng có nói: “Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương xưng danh hiệu của Tôi, dù chỉ mười tiếng mà nếu họ không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác”. Trong Quán kinh sớ, khi giải thích văn kinh “đủ mười niệm”,

Đại sư Thiện Đạo lại nói: “Trong mười tiếng xưng danh hiệu Đức Phật, có đầy đủ thập nguyện, thập hạnh”. Có thể thấy, Đại sư Thiện Đạo lấy việc xưng danh để giải thích về mười niệm.

Lại nữa, Đại sư Thiện Đạo còn thông qua quá trình phân biệt việc tu chánh hạnh hay tạp hạnh của chúng sanh để xác lập vị trí của việc xưng danh niệm Phật. Đại sư Thiện Đạo cho rằng tất cả hành vi của chúng sanh, một loại là ‘chánh hạnh’, là chuyên y cứ vào kinh điển Tịnh độ để tu hành; loại thứ hai, ngoài những hạnh vừa nêu trên thì đều là ‘tạp hạnh’.

Đại sư Thiện Đạo y cứ theo Ngũ niệm môn của Đàm Loan, đem chánh hạnh phân thành năm loại:

  1. Chánh hạnh đọc tụng: Nhất tâm chuyên đọc tụng kinh điển Tịnh độ.
    2. Chánh hạnh quán sát: Nhất tâm chuyên chú quán tưởng, ức niệm về cõi nước của Đức Phật A-di-đà.
    3. Chánh hạnh lễ bái: Nhất tâm chuyên lễ bái Đức Phật A-di-đà.
    4. Chánh hạnh tán thán: Nhất tâm chuyên cúng dường, tán thán Đức Phật A-di-đà.
    5. Chánh hạnh xưng danh: Nhất tâm chuyên dùng miệng xưng danh Đức Phật A-di-đà.

Trong năm loại chánh hạnh, Đại sư Thiện Đạo lại đem chánh hạnh xưng danh làm chánh định nghiệp. Ngài cho rằng xưng danh là bản nguyện của Đức Phật, hơn nữa mọi người đều có thể tu hành, vì vậy chúng ta nên bỏ tạp hạnh, tu chánh định nghiệp.

Đại sư Thiện Đạo nói: “Chúng sanh chướng trọng, cảnh tế, tâm thô, thức tâm loạn động, tu tập quán niệm rất khó thành tựu, vì vậy Đức Thế Tôn mới thương xót khuyên nên chuyên xưng danh hiệu”.

Đoạn trước đã đề cập đến kinh điển Tịnh độ cho rằng chúng sanh đang trong thời đại mạt pháp, căn cơ hạ liệt, có hiện hữu thì cũng chỉ là một sự tồn tại rất hữu hạn, còn sự tồn tại của Đức Phật A-di-đà là vô hạn. Danh hiệu của Đức Phật là nhịp cầu nối giữa hai bên, cung cấp cho chúng sanh khả năng vãng sanh về Tịnh độ.

Vì sao danh hiệu lại có tác dụng lớn lao như thế? Đại sư Thiện Đạo cho rằng điều này nhất định phải lý giải dựa trên lòng từ bi của Đức Phật. Phật thương xót chúng sanh đau khổ, nên Ngài đem công đức của chính mình kết tinh thành danh hiệu ‘A-di-đà Phật’. Đức Phật hoàn toàn buông bỏ tự kỷ, danh hiệu chính là hình thức tồn tại của Ngài. Như vậy, trong danh hiệu đã bao hàm toàn bộ công năng của Đức Phật, trong đó tập trung thể hiện nguyện lực của Ngài.

Tất cả hạnh, tất cả nguyện, toàn thể vũ trụ đều bao hàm trong câu ‘A-di-đà Phật’. Vì vậy, Đại sư Thiện Đạo nói: “Trên thì suốt một đời, dưới thì dù một câu hay mười câu, nhờ nguyện lực của Đức Phật nên rất dễ được vãng sanh”. Sự tồn tại của Đức Phật chỉ có hóa thành danh hiệu mới dễ dàng cứu vớt tất cả chúng sanh, và chúng sanh cũng chỉ dựa vào danh hiệu của Đức Phật mới có thể đến được cảnh giới của Ngài.

Đại sư Thiện Đạo còn trình bày và phân tích tác dụng cụ thể khi chúng sanh niệm Phật, ngài nêu lên ba tác dụng:

  1. Tác dụng thân duyên, tức là: “Chúng sanh khởi hạnh, miệng thường xưng danh hiệu Phật, Đức Phật liền nghe; thân thường lễ Phật, Đức Phật liền thấy; tâm thường niệm Phật, Đức Phật liền biết. Chúng sanh nhớ nghĩ đến Phật, Phật cũng nhớ nghĩ đến chúng sanh, hai bên không hề xa cách nhau, cho nên gọi là thân duyên”. Niệm Phật là đang ở trong bản nguyện của Phật, vì vậy người niệm Phật cùng với Đức Phật kết thành nhân duyên sâu sắc.
  2. Tác dụng cận duyên: “Chúng sanh nguyện muốn thấy Phật, Đức Phật liền ứng hiện, nên gọi là cận duyên”. Chúng sanh niệm Phật, nếu như phát nguyện muốn thấy Phật, Phật sẽ liền xuất hiện trước mắt.
  3. Tác dụng tăng thượng duyên: “Chúng sanh xưng niệm danh hiệu, liền trừ được nghiệp tội trong nhiều kiếp. Khi lâm chung, được Đức Phật cùng thánh chúng đến nghinh tiếp, tà nghiệp không thể ngăn trở được, cho nên gọi là tăng thượng duyên”.

Do chúng sanh chuyên tâm xưng danh hiệu Phật, liền tiêu trừ được những lỗi lầm trước đó, loại bỏ những thứ tạp tưởng trong ý thức, tiến vào một trạng thái thuần túy thanh tịnh không thiện, không ác.

Trạng thái này siêu vượt tất cả tâm thiện ác, những sự tạo tác hữu vi cũng ngưng nghỉ, chúng sanh nhờ đó mà đạt được giải thoát. Vì vậy nói: Niệm Phật có tác dụng làm tăng thượng duyên giúp chúng sanh giải thoát.

Đại sư Thiện Đạo cho rằng, bên cạnh việc kiên trì xưng danh, còn phải có phương thức tu hành chính xác. Đại sư Thiện Đạo nêu lên bốn phương thức:

  1. Cung kính tu: Khi chúng sanh lễ bái Đức Phật A-di-đà, nên có thái độ ân cần cung kính.
  2. Vô dư tu: Tức là khi ba nghiệp thân, khẩu, ý khởi lên, hành vi của chúng ta không được xen tạp, miệng chỉ chuyên xưng danh hiệu Đức Phật A-di-đà, chuyên nhớ, quán tưởng, lễ bái, tán thán Đức Phật A-di-đà và Thánh chúng ở Tịnh độ.
  3. Vô gián tu: Tâm đặt vào nơi khởi hạnh không gián đoạn, đây là pháp tu không tạo nghiệp khác, không khởi vọng niệm phiền não. Nhưng chúng sanh là hạng phàm phu sanh tử, thường thì chánh hạnh sẽ bị gián đoạn, Đại sư Thiện Đạo cho rằng đây là việc không thể nào tránh khỏi, chỉ nên tùy lúc sám hối là được.
  4. Trường thời tu: Từ khi phát tâm cho đến lúc lâm chung, đều tin tưởng và hành trì liên tục, không dừng giữa chừng.

Tóm lại, xét theo quan điểm của Đại sư Thiện Đạo, chỉ cần chúng sanh phát khởi ba tâm, chuyên tu chánh định nghiệp là trì danh, không xen lẫn những hạnh khác, tu hành không gián đoạn, không lười biếng, thì nhất định nương vào nguyện lực của Đức Phật A-di-đà, vãng sanh về thế giới Báo độ của Ngài.

  1. Ảnh hưởng của Đại sư Thiện Đạo đối với hậu thế và vị trí của ngài trong lịch sử

Đại sư Thiện Đạo kế thừa tư tưởng Tịnh độ của Đàm Loan, Đạo Xước, ngài đem tư tưởng “xưng danh niệm Phật”nâng lên một tầm cao mà trước đó chưa từng có, hơn nữa chính ngài cũng nỗ lực thực hành, nêu lên một tấm gương sáng cho mọi người noi theo.

Từ đó về sau, xưng danh niệm Phật trong tông Tịnh Độ nhanh chóng phát triển, đến độ mà “nhà nhà đều A-di-đà Phật”. Về sau, khi Đường Vũ Tông diệt Phật, hầu hết các tông phái đều bị ảnh hưởng và suy vi trầm trọng không thể cứu vãn, chỉ có tông Tịnh Độ và Thiền tông vẫn thịnh hành như cũ.

Do xưng danh niệm Phật rất đơn giản, dễ thực hành, thấm sâu vào lòng người, nên sau này các tông phái khác cũng đều chú ý hấp thu tư tưởng Tịnh độ, dần dần có cùng xu hướng với tông Tịnh Độ và trở thành tông chung của các tông phái.

Tuy Đại sư Thiện Đạo có tầm ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử, nhưng tính từ dạo ấy đến nay, trải qua khoảng thời gian quá dài, nên hình ảnh Đại sư trở nên khá mờ nhạt.

Chúng ta đã vô tình xem nhẹ việc nghiên cứu về tư tưởng xưng danh niệm Phật của ngài, nên đánh giá chưa đúng tầm vóc của ngài trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Chúng tôi cho rằng muốn lý giải vị trí của Đại sư Thiện Đạo, không chỉ đơn thuần dựa theo tư tưởng lý luận để nhận định.

Sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, nhìn chung đã trải qua hai giai đoạn phát triển.

Một là Phật giáo trước thời đại nhà Đường, với đặc trưng dùng hình thức lý luận;

hai là Phật giáo sau thời đại nhà Đường, với hình thức đặc trưng tín ngưỡng.

Có thể gọi Phật giáo giai đoạn trước là Phật giáo kinh điển, giai đoạn sau là Phật giáo dân gian. Cột mốc quan trọng để Đại sư Thiện Đạo sáng lập tông Tịnh Độ là Phật giáo kinh điển chuyển hướng sang Phật giáo dân gian.

Tông Tịnh Độ xuất hiện, đã giải quyết được hai vấn đề mà Phật giáo phát triển phải đối mặt:

Một là, Phật giáo phát triển đã tinh vi hoá, chuyên môn hóa lý luận Phật giáo lên rất cao, làm cho người chưa trải qua quá trình huấn luyện chuyên môn thì không thể nắm bắt được. Như vậy, Phật giáo dần biến thành tôn giáo của hình thức học viện, xa rời nhu cầu cần thiết của đại đa số quần chúng và có nguy cơ sẽ bị suy vi.

Hai là, các loại chú sớ, trứ tác của các vị cao tăng đại đức trong Phật giáo phần nhiều đều muốn luận chứng tín ngưỡng từ trên lý luận, trong đó tiềm tàng sự phá vỡ tín ngưỡng, có nguy cơ tách rời sự tu hành thực tiễn.

Đại sư Thiện Đạo nêu lên pháp môn xưng danh niệm Phật đơn giản, dễ hành, cũng phù hợp với chủ trương đơn giản, dễ hành của Thiền tông, đả phá sự độc quyền của tầng lớp quý tộc đối với Phật giáo. Ngài đã giúp một tín đồ tầm thường cũng trở thành chủ thể của tín ngưỡng Phật giáo. Sau này, Phật giáo Trung Quốc tiến đến một giai đoạn phát triển mới, Phật giáo thâm nhập vào mọi tầng lớp, mọi ngõ ngách trong xã hội, thật sự cắm rễ trên lãnh thổ Trung Quốc.

Có thể nói, Đại sư Thiện Đạo là một nhân vật quan trọng đánh dấu một bước ngoặt trên lộ trình phát triển của lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Cần phải xác định đúng vị trí của Đại sư Thiện Đạo bằng cách chú trọng tư tưởng của ngài. Ngài là một vị Đại sư Phật học mà chúng ta cần phải nỗ lực nghiên cứu.

Trích Sách Bản Nguyện Niệm Phật

Thích Minh Tuệ

 

 

 

 

 

Viết một bình luận