Chiếu phá vô minh (TT)

219. Chiếu phá vô minh (TT)

Trong nhà Phật thường nói: “Hồi đầu thị ngạn,” có nghĩa là quay đầu là bờ.  Nhưng, phải bắt đầu từ đâu để quay trở lại? Trước hết phải bắt đầu từ ngũ dục lục trần mà quay lại, tức là phải buông xả ngũ dục lục trần; kế tiếp là phải từ tâm ô nhiễm quay trở về tâm thanh tịnh, tức là phải buông xả mọi vọng tưởng, phân biệt chấp trước, trở về với Chân như Bổn tánh.

Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật có kể một câu chuyện rất dài, tóm tắc là đứa con trai của vị trưởng giả giàu có do quên mất cái nhà nguy nga lộng lẫy của mình, bỏ trốn ra ngoài đi xin ăn, nên phải chịu khổ sở khôn xiết. Câu chuyện này hàm chứa ý nghĩa là khi chúng ta xa cách, trái nghịch Chân như Bổn giác, kết quả là giống như vậy đó. Sau khi vô minh khởi lên, liền mê mất đi Bổn giác tánh, giống như đứa con trai kia bỏ cha đi đến nơi khác, phải chịu cảnh nghèo cùng túng thiếu, khi nào hắn quay đầu trở về với cha liền hết nghèo cùng túng thiếu, được hưởng mọi sự vui sướng.

Nói theo Pháp môn Tịnh độ, Phật dạy chúng ta hãy lìa khỏi thế giới Sa-bà, quy hướng Thế giới Cực Lạc. Giống như đứa con trai kia từ bỏ cuộc sống nghèo cùng túng thiếu để trở với cha mình là ông trưởng giả. Ông trưởng giả kia chính là A Di Đà Phật, cũng tức là Bổn giác tánh của chính mình. Thế giới Sa-bà quả thật có quá nhiều sự khổ, nếu chúng còn ở lại đây một ngày thì phải thọ khổ một ngày, chẳng thể giải quyết vấn đề gì cả, đừng nói chi là độ chúng sanh. Tây Phương Cực Lạc có đầy đủ mọi sự vui sướng của thường, lạc, ngã, tịnh. Tất cả cảnh tướng tốt đẹp nơi ấy đều là pháp trợ đạo của A Di Đà Phật nhằm giúp chúng ta giải quyết mọi vấn đề chướng ngại mà chúng ta chẳng thể giải quyết được ở trong cõi này. Như vậy, chúng ta cần chi phải đi tìm con đường nào khác, cứ theo một đường của A Di Đà Phật vạch ra, thẳng tắp đi về nhà. Khi về nhà rồi sẽ tức thời gặp lại từ phụ A Di Đà Phật, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, trở về với Chân như Bổn giác, thì đó mới thật sự là “hồi đầu thị ngạn.”

Đức Phật mở ra tám vạn bốn ngàn con đường để chúng sanh theo đó trở về nhà. Trong các con đường ấy, chỉ có con đường về Tây Phương Cực Lạc mới là con đường tắt về nhà, chẳng cần phải đi lòng vòng. Chúng ta tu pháp môn Niệm Phật thì cứ y theo lời kinh Vô Lượng Thọ dạy: “Tư nhiên gìn giữ thân tâm khiết tịnh, tham ái không khởi, chí nguyện an định, không tăng khuyết giảm, cầu đạo hòa chánh, không nghiêng theo tà, y lời kinh dạy, chẳng dám sai quấy, như dây chỉ mực, thảy đều mộ đạo, rỗng rang vô niệm,” thì sẽ thẳng tiến trở về nhà, chẳng cần phải học theo người khác, đi trên con đường vòng vo, quanh co, mà lại chưa chắc có thể về đến nhà. Học Phật nhất định phải khế cơ, tức là phải thích hợp với căn tánh và trình độ của chính mình, lại còn phải biết uyển chuyển sáng suốt để thích hợp hoàn cảnh sống hiện thời, chẳng nên gây chướng ngại hay mâu thuẫn với cuộc sống hiện tại của mình và mọi người thân cận với mình. Tu hành như vậy chẳng những rất tự tại, vui vẻ và thuận tiện mà lại còn có nhiều thành tựu chân thật, hiển minh được lời Phật dạy ngay trong cuộc sống đời thường, chẳng cần phải chạy đông chạy tây để tìm lông rùa sừng thỏ.

Lúc Đức Phật còn tại thế, đệ tử Phật chẳng cần phải tự mình chọn lựa pháp môn tu, vì sao? Vì khi họ đến thưa hỏi Đức Phật, Ngài liền nói ra một pháp môn thích hợp dành riêng cho họ ngay; giống như khi mình đi khám bệnh, sau khi bác sĩ chuẩn bệnh xong, lập tức kê toa thuốc đúng với căn bệnh của mình. Đức Phật giảng nhiều pháp môn khác nhau vì chúng sanh mắc các chứng bệnh không hoàn toàn giống nhau; giống như bác sĩ tùy mỗi căn bệnh mà kê thuốc nên mới có nhiều toa thuốc. Hiện thời, Đức Phật chẳng còn trụ thế nữa, những kinh điển được lưu lại chính là các toa thuốc đã kê cho rất nhiều người trong thuở ấy. Thời nay, chúng ta mắc bệnh rất nặng mà lại chẳng gặp được lương y giỏi cho thuốc, phải tự mình dọ xét lấy căn bệnh của mình, rồi lại còn phải tự mình lần mò tìm ra một toa thuốc trong các toa thuốc củ thời xa xưa để trị bệnh; cho nên rất dễ uống lộn thuốc.

Do vậy, chúng ta phải chịu khó đọc các toa thuốc, rồi còn phải suy xét kỷ lưỡng xem toa thuốc nào thật sự có thể trị được căn bệnh của mình. Nếu chúng ta nhận thấy toa thuốc nào chẳng thích hợp với căn bệnh của mình, thì phải nhanh chóng thay đổi toa thuốc khác cho phù hợp, tức là phải thay đổi phương pháp tu hành của mình sao cho chính mình đạt được lợi ích thật sự trong sự tu học; đó gọi là hoan hỷ tự tại trong tất cả pháp! Do không chấp ngã, không chấp pháp, không chấp tướng, không chấp danh tự, không chấp tâm duyên trong việc học Phật, nên có thể thấy rõ bất cứ pháp môn nào trong tám vạn bốn ngàn pháp môn của Phật đều chẳng hề trái nghịch lẫn nhau. Nếu chúng ta thấy có một pháp môn nào trái nghịch với nguyên tắc, nguyên lý này, thì chắc chắn đó chẳng phải là Phật pháp. Bởi vì nguyên lý của Phật pháp vốn chỉ có một, chỉ là nhất pháp, nhằm đạt được tâm thanh tịnh giải thoát, chỗ khác nhau của các pháp chẳng qua chỉ là phương tiện thực hành sao cho thích hợp với từng người mà thôi.

Trong hết thảy các pháp, nếu chúng ta khởi tâm phân biệt, chấp trước, có cái tâm lấy bỏ được mất, thì phải biết đó đều hoàn toàn do từ nhân ngã chấp phát sanh ra. Nếu chúng ta chẳng lìa được các thứ tâm ấy, thì nhân ngã chấp sẽ tiếp tục tăng trưởng. Nhân ngã chấp chính là chấp trước có ta, có người, có pháp này pháp nọ khác nhau. Nếu còn có những thứ này trong tâm sẽ chẳng thể phá được nhân ngã chấp. Nếu không phá được nhân ngã chấp thì không thể nào niệm Phật được Nhất tâm Bất loạn. Vì điều này rất khẩn yếu đối với người tu hành, nên các Ngài Liên Trì và Ngẫu Ích Đại sư đều bảo: “Phá nhân ngã chấp, đắc Sự Nhất tâm Bất loạn,” đây chính cách thức để chiếu phá vô minh trong pháp môn Tịnh độ. Nam-mô A Di Đà Phật có nghĩa là Vô Lượng Giác. Trong cái tâm giác ngộ ấy không có nhân ngã chấp, tức là không có chấp trước hay nắm giữ lấy bốn tướng: nhân, ngã, chúng sanh và thọ giả, nên cũng không có so đo ngôn ngữ, danh tự; chỉ có tâm mê hoặc mới có những thứ chấp trước này.

Pháp môn Niệm Phật dùng một câu Phật hiệu để nhắc nhở chính mình. Khi mình mê bèn khởi sanh ra ý niệm phân biệt, so đo chấp trước, thì một câu A Di Đà Phật liền lay tỉnh chính mình; đó gọi là “hồi đầu thị ngạn,” tức là theo đường quay trở về nhà. Con đường ấy chính là câu niệm Phật trong thâm tâm của mình, cái nhà ấy chính là Chân như Bổn tánh của mình; chớ nào phải là cái gì có thể tìm được ở bên ngoài. Nếu mỗi ngày chúng ta niệm mấy ngàn, mấy vạn tiếng Phật hiệu với ý nghĩ là A Di Đà Phật nghe mình niệm nhiều như vậy sẽ rất hoan hỷ, rất ưa thích mình, trong tương lai khi mình lâm chung, Ngài nhất định sẽ đến đón mình, thì đây chính là người học Phật mà vẫn là còn so đo danh tự, còn chấp bốn tướng như cũ. Mỗi ngày niệm Phật mà cứ vẫn tăng trưởng cả đống vọng tưởng, phiền não, chẳng giảm bớt chút nào, thí như Cổ Đức nói: “Niệm bễ cuống họng cũng uổng công.” A Di Đà Phật không chấp tướng cũng chẳng so đo danh tự; hễ ai niệm danh hiệu Ngài với tâm tin ưa, thanh tịnh và bình đẳng, thì Ngài sẽ đến rước người ấy. Phật chẳng có cảm tình riêng tư với bất cứ một ai cả; ngay cả ông bà cha mẹ, vợ con quyết thuộc của Phật trong các đời trước cũng không ngoại lệ.

Kinh Di Đà dạy điều kiện vãng sanh là “Nhất tâm Bất loạn, tâm chẳng điên đảo,” chứ hoàn toàn chẳng dạy hằng ngày niệm nhiều câu Phật hiệu mà không cần phải nhất tâm bất loạn. Kinh dạy chúng ta hằng ngày niệm Phật, nhớ Phật không hề gián đoạn là bảo chúng ta hằng ngày đều phải giác ngộ, chẳng để vọng tưởng có cơ hội khởi lên, chẳng để cho nghiệp chướng có duyên hiện hành, để mình có thể trở về Nhất tâm Bất loạn. Kinh dạy chúng ta niệm câu Phật hiệu sao cho từng tiếng niệm đều là giác chứ chẳng mê, từ trong mê tình mình hét to câu Phật hiệu để kêu gọi chính mình hãy quay đầu giác ngộ, ý nghĩa niệm Phật là như vậy đó! Niệm Phật như thế mới chính thực là biết quay trở về nhà. Nếu mỗi ngày mình niệm Phật đều thấy rõ cảnh giới ngày càng tốt đẹp hơn, phiền não chấp trước nhạt mỏng hơn, công phu tu hành và trí tuệ mỗi ngày đều có tiến bộ, có thể buông xuống dễ dàng hơn, thì đấy mới chính là công phu niệm Phật đắc lực; ngã chấp, pháp chấp sẽ theo đó mà tự nhiên dần dần được phá trừ. Pháp chấp là tri kiến, là sở tri chướng. Chúng ta tu tịnh nghiệp thì chỉ nên học hỏi và nghiên cứu những gì chúng ta cần thiết để niệm Phật sao cho đúng như lý như pháp; chớ chẳng nên cầu kiến thức, cầu bằng cấp Phật Học. Người ưa thích nghiên cứu, học hỏi này nọ cho thật nhiều đều là bị rơi vào sở tri chướng rất nặng, đó chính là tăng trưởng vô minh, chớ chẳng phải là chiếu phá vô minh!

Diệu Âm Trí Thành

Thich Minh Tue

 

 

 

 

 

 

Viết một bình luận