Loi Hai Cua Su Phat Nguyen

 

231. Lợi hại của sự Phát nguyện

 

Hỏi:Con vẫn biết Tín Nguyện Hạnh là ba món tư lương của Tịnh độ, nhưng con chưa thấu rõ sự lợi hại của Phát nguyện. Kính xin Thầy từ bi giải thích cho con rõ. Con thành kính tri ân Thầy

 

 .Đáp : Nam Mô A Di Đà Phật

 

  1. Kinh : Xá Lợi Phất! Ta thấy điều lợi này, nên nói lời này. Nếu có chúng sanh nghe nói như vậy, hãy nên phát nguyện sanh về cõi ấy (Tây Phương Cực Lạc). Đức Phật quả thật đã rát miệng buốt lòng khuyên dạy chúng ta. Người thật sự hiểu rõ, sẽ sanh khởi lòng cảm kích vô tận đối với mấy câu này của đức Phật, đúng là lòng từ bi đến cùng cực. “Ngã” (ta) là Thích Ca Mâu Ni Phật tự xưng, [ý nói] chẳng phải do ai khác thấy. Người khác trông thấy chưa chắc đã chánh xác, chưa chắc chân thật, đức Phật là bậc đã chứng đắc cực quả, như kinh Kim Cang đã nói, Phật là bậc “ngũ nhãn viên minh”, những điều Ngài trông thấy chắc chắn là chân thật. Ngài thấy lợi ích, lợi ích gì vậy ?

 

Niệm Phật vãng sanh bất thoái thành Phật, đức Phật thấy lợi ích ấy. Trong các lợi ích thuộc pháp thế gian và xuất thế gian, bất cứ lợi ích nào cũng đều chẳng thể sánh bằng lợi ích ấy! Chư vị phải biết : Phàm phu tạo tác ác nghiệp, [kể cả] phàm phu tạo tác ác nghiệp cực nặng mà có thể tin nguyen niem Phat, deu co the vang sanh bat thoai thanh Phat. Den noi  dau de tim duoc loi ich nay (ngoai pháp môn Niệm Phật] ? Cho thấy pháp môn này xác thực là có thể độ hết thảy chúng sanh trong mười pháp giới, kể cả Phật pháp giới trong mười pháp giới. Phật mà còn phải vãng sanh thế giới Cực Lạc ư ? Đúng vậy! Tạng Giáo Phật, Thông Giáo Phật, và Biệt Giáo Phật đều chưa viên mãn Bồ Đề. Biệt Giáo Phật bằng với địa vị Nhị Hạnh Bồ Tát trong Viên Giáo, làm sao Ngài chẳng cầu vãng sanh cho được ? 

 

 Huống hồ là những địa vị thấp hơn thuộc về Tạng Giáo và Thông Giáo! Do đó, pháp môn này phổ độ viên mãn mười pháp giới. Tra duyệt khắp Đại Tạng Kinh, chẳng tìm thấy pháp môn thứ hai! Vì thế, pháp môn này thù thắng bậc nhất, thù thắng khôn sánh, được hết thảy chư Phật tán thán. Làm sao chúng ta có thể coi rẻ cho được ? Xem thường pháp môn này, coi nhẹ nó, tức là nghiệp chướng sâu nặng, thật sự sâu nặng, chẳng để pháp môn này vào mắt! Người nào coi trọng [pháp môn này] nhất ? Văn Thù Bồ Tát coi trọng, Phổ Hiền Bồ Tát coi trọng, các Ngài phát nguyện mong cầu sanh. Vì sao các Ngài coi trọng như thế ?

 

 Đối với pháp môn này, các Ngài hiểu lý rốt ráo, liễu giải rất rõ ràng, rất minh bạch, phải biết điều này. Người thật sự hiểu rõ, người thật sự giác ngộ, hằng ngày niệm Phật luôn cảm thấy chẳng đủ thời gian, há còn có thời gian dấy vọng tưởng ư ? Còn có thời gian nói chuyện thị phi nữa chăng ? Chẳng có! Nói cách khác, người niệm Phật suốt ngày còn dấy vọng tưởng, còn làm chuyện thị phi, nhân ngã, có thể suy nghĩ mà biết căn tánh của người ấy! Ở đây, Phật Thích Ca đại diện cho mười phương hết thảy chư Phật. Phật Thích Ca thấy lợi ích này, cũng chính là mười phương ba đời hết thảy chư Phật cùng thấy lợi ích thù thắng nhất này.

 

 “Cố thuyết thử ngôn” (Vì thế, nói lời này), nói lời gì vậy ? Khuyên chúng ta vãng  sanh, chẳng nói hai lời, khuyên chúng ta hãy nhanh chóng niệm Phật để tới đó. 2. “Điều lợi này” chỉ [lợi ích] vãng sanh thấy Phật trong phần trên). Lợi ích thế gian và xuất thế gian chẳng có gì lớn hơn điều này được! Cho nên nói lời “nhất tâm trì danh” này. Niệm Phật thì phải nhất tâm niệm, điều này trọng yếu lắm! Trong Tây Phương Xác Chỉ, Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát [cho biết Ngài] đã từ thế giới này niệm Phật sanh về Tây Phương Tịnh Độ.

 

 Sau khi tới đó, Ngài lại trở về làm một vị liên hữu, một vị thiện tri thức, Ngài kể lại kinh nghiệm của Ngài. Bí quyết niệm Phật là “chẳng xen tạp”, tức là tịnh niệm, Đại Thế Chí Bồ Tát nói “tịnh niệm tiếp nối”, Ngài (Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát) bảo chúng ta “niệm Phật kỵ nhất là xen tạp”. Những gì là xen tạp ? Ngài nói rất rõ ràng, rất minh bạch. Chúng tôi đã trích lục một đoạn khai thị của Ngài in vào mặt sau của những tượng Phật nhỏ, in ra rất nhiều, chư vị đồng tu cũng đều trông thấy. Đã thấy mà vẫn xen tạp y như cũ, chẳng có cách nào hết! Thân tâm của chúng ta quả thật có bệnh nặng, đoạn khai thị ấy là toa thuốc, chúng ta cầm toa thuốc ấy mà chẳng thể trị bệnh, rất oan uổng!

 

3. Kẻ chẳng nguyện vãng sanh là đã cô phụ lời Phật dạy, đây là lặp lại khuyên lần thứ hai. Trong kinh Di Đà, đức Phật ba lượt khuyên chúng ta hãy nên phát nguyện sanh về cõi ấy..  Đức Phật chẳng nói lời không có lợi ích. Chúng ta nên phải học tập câu này. Lời lẽ vô ích, chẳng có lợi ích cho chính mình, chẳng có lợi ích cho chúng sanh, quyết định chẳng nói lời ấy, chẳng có thời gian để nói.

 4.. Trì danh bèn được vãng sanh, có lợi ích to lớn cho chúng sanh, cho nên đức Phật bèn nói. Phật hiệu có công đức và lợi ích chẳng có gì sánh bằng, thật sự chẳng thể nghĩ bàn. Vì thế, người niệm hễ mở miệng bèn “A Di Đà Phật”. Câu ấy là tự lợi, lợi tha, chính mình niệm Phật cầu vãng sanh, người khác “nhất lịch nhĩ căn, vĩnh vi đạo chủng” (một phen thoảng qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo), tự lợi, lợi tha, chẳng nói câu thứ hai [nào khác]. Phật hiệu mới là lời lợi ích chân thật, là lời công đức chân thật, toàn nói những lời ấy. “Ư chư chúng sanh hữu đại lợi ích, cố Phật thuyết dã” (Có lợi ích to lớn cho chúng sanh, cho nên đức Phật nói đến).

 

Vì vậy, đức Phật nói những kinh điển khác, trong cả một đời Ngài chỉ nói một lần, nói một lượt xong bèn chẳng nói lần thứ hai. Chỉ riêng khuyên nhủ chúng ta vãng sanh Tịnh Độ thì không chỉ là nói ra ba bộ kinh, mà một bộ kinh Vô Lượng Thọ còn được tuyên giảng nhiều lần. Do duyên cớ nào ? Có đại lợi ích cho các chúng sanh. Hết thảy các kinh khác chẳng có bộ kinh nào có lợi ích to bằng bộ kinh ấy; vì thế, bộ kinh ấy phải được giảng mấy lượt, đạo lý ở ngay chỗ này.

 

5. là vì đã đắc vãng sanh thì gọi là tự lợi. Thật sự sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới thì mới gọi là tự lợi .Sanh về cõi ấy, nghe pháp đắc đạo, còn có thể rộng độ vô lượng chúng sanh, đó là lợi tha. Có đủ hai điều lợi ấy, nên gọi là “đại lợi”. Có một hạng người, bi nguyện từ bi rộng sâu, muốn rộng độ chúng sanh ngay trong hiện tại, chẳng mong sanh về thế giới Cực Lạc, nghĩ chúng sanh quá khổ, ta đến thế giới Cực Lạc, lẽ nào chẳng có lỗi đối với chúng sanh ? Bi nguyện ấy đáng ca ngợi, nhưng sự thật hoàn toàn tương phản.

 

 Nói thật ra, đã chẳng thể tự độ, lại còn lầm lỡ chúng sanh, đáng tiếc lắm! Suy nghĩ kiểu ấy là điên đảo, lầm loạn! Giống như nay chúng ta thấy xã hội rối ren ngần ấy, quyết chí mong chỉnh lý xã hội cho tốt đẹp, tạo phước cho đại chúng, hãy nên làm như thế nào ? Trước hết, phải đi học, học thành một thân bản lãnh, quý vị mới có thể làm được! Trước nay chưa từng đến trường, chẳng học hành gì, chẳng biết một chữ nào, mà phát nguyện cứu vớt xã hội và quốc gia này, có được hay không ? Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới là đi học. Huống chi trường học ấy hết sức đặc thù, chẳng cần phải tốt nghiệp mà có năng lực cứu độ chúng sanh.

 

Đối với những cõi nước chư Phật thông thường khác, nhất định phải là đến khi chính quý vị tốt nghiệp thì mới được. Tây Phương Cực Lạc thế giới không cần tốt nghiệp, quý vị đến thế giới Tây Phương, dẫu là hạ phẩm hạ sanh, trong hoa sen bèn thấy Hóa Thân Phật, Hóa Thân Phật là được rồi. Quý vị có thể thưa với Phật : “Con thấy chúng sanh rất đáng thương, nay con muốn đến độ họ, có được hay không ?” Đức Phật nhất định gật đầu : “Được chứ! Nay ông  hãy đi đi”. Đức Phật dùng thần lực gia trì quý vị, quý vị lập tức có thể thả chiếc bè Từ đến phổ độ chúng sanh, chẳng có gì nhanh chóng hơn được!

 

Thông thường, hàng Bồ Tát thật sự đến độ chúng sanh là những vị đã đạt đến địa vị gì ? Cửu Địa Bồ Tát. Cửu Địa được gọi là Pháp Sư Địa ( Thiện Huệ Địa). Bát Địa là Bất Động Địa, không bị lay động bởi hết thảy cảnh duyên. Cửu Địa có thể làm pháp sư, có thể rộng độ chúng sanh Quy vi muon dat toi Cuu Dia trong kinh Duc phat thuong noi trong cac coi Phat binh pham tu tron hai A Tang Ky kiep 

 

Chúng ta đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, nói thật ra, vài ngày đã viên mãn. Chúng ta từ nơi đây vừa vãng sanh, thấy A Di Đà Phật, cùng Ngài gặp mặt rồi bèn có thể lập tức trở về, trong bốn mươi tám nguyện có [nói tới chuyện ấy]! Trong bốn mươi tám nguyện, chẳng nói người ấy nhất định phải ở thế giới Tây Phương tu đến trình độ nào thì mới có thể tới các thế giới phương khác hóa độ chúng sanh. Chẳng hề nói, đã đến bèn ngay lập tức là có thể trở về. Còn có gì nhanh chóng hơn nữa ? Chẳng có! Chẳng tin tưởng, nếu ở đây mà dấy vọng tưởng, học rộng nghe nhiều, chẳng chịu vãng sanh, đúng là chẳng còn biết nói sao được nữa!

 

 Do đó, gọi là “đại lợi”, bất luận là vì chính mình, hay vì chúng sanh, đều phải nên ngay lập tức đến Tây Phương, sớm có ngày thấy A Di Đà Phật, quyết định là chánh xác. Cổ đức nói : “Chỉ được thấy Di Đà, lo gì chẳng khai ngộ”. Lời ấy nhằm khuyên người tham Thiền, khuyên kẻ tham Thiền hãy niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Tham Thiền nhằm mục đích đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Hễ quý vị thấy A Di Đà Phật liền  minh tâm kiến tánh, người học Giáo thấy A Di Đà Phật liền đại khai viên giải, há còn phải phiền phức, vất vả như thế nữa chăng ?

 

Nhất định là phải hiểu rõ, phải hiểu minh bạch điều này. Học Mật cũng chẳng phải là ngoại lệ, thấy A Di Đà Phật, cũng sẽ thông đạt Mật Giáo viên mãn. Huống hồ Mật Giáo do đâu mà có ? Do Phổ Hiền Bồ Tát truyền dạy. Mật Tông trong Phật môn ở nơi đâu ? Trong thế giới Cực Lạc.

 

 Quý vị xem kinh Hoa Nghiêm, lão nhân gia cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Do vậy, quý vị tìm Phổ Hiền Bồ Tát, đến thế giới Cực Lạc bèn gặp Ngài ngay lập tức. Ngài (Phổ Hiền Bồ Tát) là thỉ tổ, là lão tổ tông của Mật Tông! Niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, còn có gì để bàn cãi nữa ư ? Ngàn muôn phần chớ để đại lợi luống qua!

6“Khuyên lần thứ hai” : Thoạt đầu, kinh nói “chúng sanh nghe nói”, [nghĩa là] chỉ là được nghe sự trang nghiêm thù thang nhiệm mầu trong cõi ấy, cho nên dấy lòng phát nguyện, ưa thích, nhưng chưa rõ như thế nào sẽ được sanh về đó, nay ro nguyen do). Trong phần trước kinh đã nói, “chúng sanh văn giả” (chúng sanh nghe nói), [tức là] trong phần trước nói tới y báo và chánh báo trang nghiêm trong thế giới Tây Phương, thấy sự thù thắng của thế giới Tây Phương. Vì thế, phát nguyện cầu sanh. “Nguyện”là phát nguyện, “nhạo” là ham thích, ham thích Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhưng chẳng biết làm thế nào thì mới có thể vãng sanh.

 

Trong đoạn này, đức Phật dạy chúng ta phương pháp vãng sanh. Nói “nhất tâm trì danh, Phật đến tiếp dẫn, bèn được sanh về cõi kia”, như vậy thì nguyện sẽ càng thêm thiết tha. Vì thế, nói là “khuyên lần thứ hai”.Bản thân chúng ta chỉ cần làm được “nhất tâm, chuyên tinh”. Chỉ cần làm được bốn chữ ấy, lâm chung Phật đến tiếp dẫn, bèn được sanh về cõi kia. “Tắc nguyện đương ích thiết” (Cho nên nguyện sẽ càng thêm thiết tha); khi ấy, nguyện của chúng ta càng chân thật, thiết tha hơn trước. Đây là khuyên lần thứ hai, nguyện của chúng ta [nhờ đó] càng thêm chân thật, thiết tha.

 

Tới khi khuyên lầ cảnh giới ấy, không đi (vãng sanh cõi Cực Lạc) chẳng được! Sức mạnh gì cũng chẳng thể ngăn cản được! Kinh Di Đà có đại hiệu quả, có đại oai lực dường ấy. Chúng ta niệm từ đầu đến cuối một lượt, tín tâm chưa hề sanh khởi, thì gọi là “niệm suông vô ích”, hoàn toàn chẳng liễu giải ý nghĩa trong kinh, hoàn toàn chẳng hiểu. [Do đó], nghe mà như chẳng nghe, thấy mà, chang thay

 

  1. Lại nói lợi, nhằm hiển thị nỗi tai hại của việc chẳng nguyện vãng sanh, nhằm chỉ dạy sự ưa thích và chán nhàm). Nhìn theo phương diện tương phản thì cũng hết sức có lý.Tu hành trong cõi này, nhiều kiếp thăng trầm, chẳng thể giải thoát Chúng ta thường nói là “tiến, lùi”. Tiến ít, lùi nhiều, thời gian tiến lên thì ít, mà thời gian chìm đắm thì nhiều, chẳng tương xứng! Do vậy, tu tập phải cần đến ba đại A-tăng-kỳ kiếp. Trên thực tế, chẳng phải là thời gian chỉ lâu ngần ấy, vì thời gian thoái chuyển quá lâu, những lần tiến bộ rất ít. “Đa kiếp thăng trầm, bất năng giải thoát” (Nhiều kiếp thăng trầm, chẳng thể giải thoát).

 

 Chẳng thể giải thoát, nói đơn giản là không thoát khỏi tam giới, chẳng có cách nào thoát ly luân hồi, đó là nỗi khổ thật sự! Khổ chẳng thể nói nổi.

 

9. Nay do xưng danh mà vãng sanh, bèn dự lên ngôi vị Bất Thoái. So sánh điều lợi, lẽ hại, rõ ràng như đường chỉ trong lòng bàn tay Sự lợi  được mất trong ấy, đức Phật đã nói quá rõ ràng, quá minh bạch trong kinh này. Liên Trì đại sư lão nhân gia đọc kinh Di Đà, thấy rõ ràng, rất minh bạch, sợ chúng ta nửa hiểu nửa không, thấy mà như chẳng thấy, nên vì chúng ta viết bản chú giải tường tận này, (trong Kinh A Di Dà Sớ Sao Diễn Nghĩa) khiến cho chúng ta thấy rõ ràng, thấy minh bạch ý nghĩa của kinh Di Đà, đừng nêncô phụ giáo huấn của đức Phật.

 

10. Lợi” chính là các điều vui, “hại” chính là các nỗi khổ. Vì thế, hãy nên yêu thích và chán nhàm. Vãng sanh bèn phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui. Chẳng thể vãng sanh bèn mê hoặc, điên đảo, tiếp tục trầm luân. Lại nữa, “ta nói” nhằm chỉ rõ [bản kinh A Di Đà này] chẳng do ai hỏi mà [đức Phật] tự nói). phương thức để nói kinh, chúng ta thường gọi là “thập nhị phần giáo”. Trong mười hai phương thức ấy, có một loại gọi là Vô Vấn Tự Thuyết . Đức Phật thuyết kinh, đại đa số là có người khải thỉnh, tức là có người hỏi, đức Phật mới nói. Chẳng có ai hỏi, đức Phật sẽ hông nói.

Chỉ riêng chuyện niệm Phật vãng sanh này, không có ai hỏi mà đức Phật tự nói. y, có hai nguyên nhân :  Thứ nhất, pháp môn Tịnh Độ thật sự quá sâu.· “Duy Phật dữ Phật, phương năng cứu h” (Chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu hiểu rốt ráo). Đẳng Giác Bồ Tát nếu chẳng được chư Phật gia trì, cũng chẳng hiểu rõ pháp môn này cho lắm, vẫn là chẳng thể làm sao được! Ai có thể hỏi cho được ? Không ai có thể hỏi!

 

 Nguyen nhân thứ hai, đức Phật thấy căn cơ của chúng sanh đã chín muồi. Căn cơ gì vậy ? Chính là “thiện căn, phước đức” như kinh Di Đà đã nói. Thiện căn, phước đức đã gieo từ vô thỉ kiếp tới nay, đến khi ấy đã chín muồi, chẳng có ai hỏi, đức Phật cũng phải nói, để tạo nhân duyên cho họ. Họ có thiện căn, đức Phật nói kinh này, họ có thể tin, có thể hiểu, [tức là] họ nghe hiểu, chịu tin tưởng. Hiểu gì vậy ? Hiểu sự lợi, hại, được, mất trong ấy. Vãng sanh có đại lợi ích, không vãng sanh là đại tổn hại.

 

 Họ hiểu rõ điều này, tín tâm sanh khởi, đó là thiện căn. Họ có phước đức, phước đức là gì ? Bằng lòng vãng sanh, chịu phát nguyện, chịu niệm Phật. Chịu phát nguyện và chịu niệm Phật là phước báo bậc nhất, chẳng có phước báo nào có thể sánh bằng  phước báo này. Chư vị phải hiểu : Chúng ta niệm Tam Quy Y, “quy y Phật, Nhị Túc Tôn”, hai thứ gì vậy ? Phước và huệ, Túc là đầy đủ, có nghĩa là viên mãn. [Nhị Túc Tôn] là phước viên mãn, huệ viên mãn. Người vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới đều là đến đó làm Phật; phước và huệ của quý vị chẳng viên mãn thì làm sao có thể làm Phật cho được ?

 

 Quý vị hiểu đạo lý này! Phước báo ấy chẳng phải là sự phú quý trong cõi nhân, thiên. Phước báo nhân, thiên được gọi là phước báo hữu lậu, vô dụng! Ở đây là phước báo chân thật. Phước báo ở đây là phước báo chân thật khiến cho quý vị thành Phật trong một đời này. Vì thế, chúng ta có thể tin, có thể hiểu, đó là thiện căn. Có thể nguyện, có thể niệm, đấy là phước đức. Thiện căn và phước đức của quý vị trọn đủ, đức Phật tạo nhân duyên cho quý vị. Ba thứ thiện căn, phước đức, và nhân duyên trọn đủ, chúc mừng quý vị, quý vị thành Phật trong một đời này, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới để làm Phật.

 

Vì thế, kinh dạy chúng ta : “Chẳng thể do chút thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cõi ấy”. Kẻ ít thiện căn chẳng tin, chẳng hiểu, tức là đối với lợi, hại, được, mất, đích xác là chẳng thật sự hiểu rõ, chẳng thật sự hiểu minh bạch. Thật sự thông hiểu rõ ràng, trí huệ sẽ viên mãn. Vì sao ? Những thứ khác đều buông xuống, chẳng còn làm nữa! Giống như Liên Trì đại sư lúc tuổi già đã thật sự viên mãn. Vì thế, lão nhân gia nói : “Tam Tạng mười hai bộ, nhường cho người khác ngộ”. Từ đấy trở đi,  chẳng còn đụng đến kinh sách nữa! Suốt đời là một quyển kinh Di Đà, niệm một câu Phật hiệu đến cùng. Đó là huệ đã viên mãn. Hễ còn muốn làm những thứ khác, trí huệ của người ấy hữu hạn.

 

 Thật sự là suốt ngày từ sáng đến tối niệm một câu A Di Đà Phật đến cùng, niệm niệm hy vọng đến Tây Phương Cực Lạc thế giới thấy A Di Đà Phật; đấy là phước viên mãn, phước đức viên mãn. Nói cách khác, hết thảy những thứ khác đều chẳng ghim trong tâm. Trong tâm chỉ có thế giới Cực Lạc, chỉ có A Di Đà Phật, phước huệ đều đủ, chỉ còn thiếu một chữ Tôn. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn là Tôn, Nhị Túc Tôn. Quý vị nói xem : Lợi ích ấy có nhiều hay chăng ? Còn có lợi ích nào to hơn lợi ích này ? “Nhất thất túc thành thiên cổ hận” (Một bước sa chân thành nỗi hận ngàn đời).

 

Quý vị gặp gỡ pháp môn này mà chẳng phát nguyện vãng sanh, không chỉ là hận ngàn đời, mà là hối hận cả vạn kiếp, nói thật đấy! Loại cơ duyên này chẳng dễ gặp gỡ, rất khó gặp gỡ, chúng ta nhất định phải hiểu điều này. Chư vị ở trong giảng đường, nay có thể nghe đoạn kinh văn này, quý vị có phước báo! Những kẻ chẳng đến đều là có nghiệp chướng, chẳng có phước!

 

  1. Do thấy điều lợi to lớn này, bèn vội vàng chỉ bày, vì sợ chung sanh lề mề, đánh mat điều lợi; do vậy, chẳng đợi hỏi han sợ mọi người bỏ lỡ dai loi ich thu thang nhu vay chẳng cần chờ chúng ta hỏi, vội vã tuyên nói.

 

 Trich La Thu An Duong

 Thich Minh Tue

Viết một bình luận