23.LIÊN QUAN ĐẾN TÍN TÂM VÀ NIỆM PHẬT
6-Hỏi: Chúng ta không có tín tâm để khai mở sự thể nghiệm tức khắc ấy, chúng ta chỉ tin ‘xưng danh hiệu thì nhất định vãng sanh’, bất luận thời gian lâu hay gần, bất kể bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi. Xin hỏi Sư phụ, loại cảm thọ này phải chăng phù hợp với nguyện thứ 18?
Đáp: Việc này phù hợp với nguyện thứ 18. Bởi vì, bạn đã Nhất hướng chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, bất kể thời gian lâu hay gần, bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi, mỗi niệm không bỏ, như vậy tự nhiên nằm ngay ở bản nguyện thứ 18. Bởi vì, việc vãng sanh hoàn toàn không phải chúng ta nói ‘phải như thế này, phải như thế kia’, chẳng phải như vậy! Vãng sanh vốn là sức công đức của Phật A-di-đà đang vận hành.
Vì thế, người xưng niệm câu danh hiệu này bất kể họ biết hay không biết, tự nhiên có công năng vãng sanh đang tiềm ẩn ở trong câu danh hiệu này. Giống như người niệm Phật trên thân có Phật quang, trên đầu có hào quang, đấy là lẽ tự nhiên. Dù cho họ không biết hay không nhìn thấy, nhưng tự nhiên sẽ có công năng này, bởi vì công năng của danh hiệu và Tự tánh của danh hiệu là như thế.
Giống như công năng của lửa là đốt cháy, một khi châm lửa thì ắt sẽ cháy, bất kể bạn biết hay không biết, thậm chí trong miệng hoặc trong tâm của bạn cho rằng nó không thể cháy, muốn nó không cháy, nó cũng nhất định cháy, trừ khi bạn không châm lửa, vừa châm lửa thì ắt sẽ cháy, bởi vì cháy chính là công năng của lửa.
Bản thân câu danh hiệu này có thể khiến cho chúng ta vãng sanh, cho nên chúng ta xưng niệm câu danh hiệu này thì có thể vãng sanh. Chúng ta biết vậy mà xưng niệm, tin nằm ở ngay trong câu danh hiệu, dù chẳng hiểu trọn vẹn nguyên lí này, nhưng thường xưng niệm danh hiệu Phật thì cũng nhất định vãng sanh, bởi vì có sự vận hành của Phật A-di-đà.
Pháp Nhiên thượng nhân là người đã ghi lại quá trình phát khởi tín tâm. Pháp Nhiên thượng nhân nói, đến 43 tuổi ngài mới phát khởi tín tâm niệm Phật. Ngài nói, ngài tìm pháp môn thích hợp để thoát ly sanh tử luân hồi cho mình, đọc Đại tạng kinh năm lần, ‘rốt cuộc bộ kinh nào cũng giải thích về pháp môn niệm Phật mới thích hợp với ta, cũng thích hợp với bất cứ mọi người, có thể giải thoát sanh tử luân hồi?’
Lúc đương thời Pháp Nhiên thượng nhân được xưng là trí huệ đệ nhất, nhưng ngài có trí huệ đệ nhất để tìm ra một con đường giải thoát, hay là một bộ kinh, một bộ luận, cứ lật giở liên tục, tổng cộng cả thảy năm lần, sau cùng ngài mới phát hiện ra trong Quán kinh tứ thiếp sớ của Đại sư Thiện Đạo soạn, có ghi chép về pháp môn xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Pháp môn này ai cũng có thể làm được, đơn giản và mau chóng. Do đó, các kinh điển khác ngài không xem tới nữa, chỉ chuyên tâm vào bộ Quán kinh tứ thiếp sớ, xem qua ba lần. Lần thứ nhất ngài xem xong, tuy điểm quan trọng của đại ý còn chưa nắm vững, nhưng ngài cảm thấy rất hoan hỷ; xem lại lần thứ hai thì càng được an ổn; xem lần thứ ba thì trong lúc xem đến đoạn văn:
Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ, đây gọi là nghiệp chánh định, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà.
Lúc xem đến đoạn pháp ngữ này, mắt của Pháp Nhiên thượng nhân mở sáng, tảng đá trong lòng lập tức rơi xuống.
Ngài thể ngộ được điều gì? Thể ngộ rằng: Thì ra việc vãng sanh của chúng ta đã được Đức Phật A-di-đà chuẩn bị trước đây mười kiếp rồi. Điều mà Ngài đã chuẩn bị chính là câu danh hiệu này, việc vãng sanh nằm ngay trong câu danh hiệu này, chỉ cần xưng danh thì nhất định được vãng sanh.
Bởi vì, trong đoạn văn này đã nói ‘mỗi niệm không bỏ’ là bốn oai nghi ‘đi đứng nằm ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần’, nghĩa là: Chúng ta chỉ cần xưng niệm câu danh hiệu này là được rồi, đi đứng nằm ngồi đều được cả, bất kể thời gian nào, bất cứ địa điểm nào, bất kể tình huống nào, đều không liên quan gì hết, đều không hạn chế, chỉ cần xưng niệm câu danh hiệu này, thời gian tu hành dài hay ngắn, đều có tư cách vãng sanh, cho nên nói ‘bất luận thời gian lâu hay gần’.]]
Như vậy, chẳng phải cứu độ vốn không có điều kiện nào, rõ ràng Phật tặng cho chúng ta đấy sao? Vả lại, Ngài đã đặt câu danh hiệu này ở đây, chúng ta tùy lúc phát hiện, tùy lúc nắm lấy, tùy lúc sở hữu. Niệm Phật như vậy thì ai mà không làm được chứ! Không hạn chế một ngày niệm mười vạn tiếng, phải niệm mấy nghìn vạn. Cũng không hạn định là người xuất gia hay tại gia, nữ hay nam, buộc phải thâm nhập kinh tạng hay không thâm nhập kinh tạng, chỉ cần chúng ta xưng niệm câu danh hiệu này.
Thân phận chúng ta như thế nào, thì dùng thân phận như thế đó mà xưng niệm câu danh hiệu này. Nói như vậy, chỉ cần chúng ta xưng niệm câu danh hiệu này, có vãng sanh không, không nằm ở chỗ chúng ta có cảnh giới công phu như thế nào, không nằm ở chỗ chúng ta phải niệm như thế này niệm như thế kia, không nằm ở chỗ chúng ta, mà hoàn toàn nằm ở chỗ Phật A-di-đà. Ngài phát nguyện cứu độ chúng sanh niệm Phật, chúng sanh niệm Phật thì nhất định được vãng sanh!
Vì thế, Pháp Nhiên thượng nhân lúc xem đoạn pháp ngữ này ngay lập tức cảm động, rơi lệ, ngay lập tức lớn tiếng niệm Phật ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’, lúc đó là buổi tối, không có người nào, ngài lớn tiếng niệm Phật. ‘Thì ra Phật A-di-đà cứu độ ta, mười kiếp trước đã đưa ra phương pháp cứu độ’, đây là quá trình khai mở tín tâm của Pháp Nhiên thượng nhân.
Còn Đại sư Thiện Đạo, ngài gặp được Thiền sư Đạo Xước. Lúc nghe Thiền sư giảng kinh Vô Lượng Thọ thì sự nghi ngờ trong tâm của Đại sư Thiện Đạo liền đoạn trừ, bỏ hết các pháp môn khác, chỉ Nhất tâm xưng niệm câu danh hiệu này.
Có người theo đuổi ‘một niệm tín tâm’, nhưng không lãnh hội được, do đó bỏ xưng danh, luôn muốn theo đuổi cảnh giới tín tâm đó. Nhưng đời người vô thường, hiện tại chết thì luân hồi sanh tử. Vì thế, bạn chỉ cần xưng danh mà thôi. Huống gì tín tâm nằm ngay trong việc xưng danh. Điều đáng ngại là, một mặt bạn xưng danh, mặt khác lại cho rằng không đủ, rồi lại tu thêm các pháp môn khác.
Vậy thì phải làm như thế nào? Cần phải gần gũi vị thiện tri thức để được chỉ dạy, đồng thời các liên hữu cùng niềm tin, cùng ngồi lại thảo luận với nhau.
Chúng ta nên tránh xa các liên hữu có kiến giải khác, để tránh khỏi bị vướng mắc. Vì thế, chúng ta nên luôn gần gũi và thảo luận với bạn đồng tu và thiện tri thức, bởi vì đời người không có việc nào lớn hơn việc này cả.
- Hỏi: Có một câu nói ‘tín tâm chắc đầy đủ trong câu danh hiệu mà danh hiệu chưa chắc đầy đủ tín tâm chân thật’, xin Sư phụ khai thị cho
Đáp: Cũng chính là nói: Người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà thì nhất định sẽ xưng danh hiệu niệm Phật. Bởi vì ở trong tâm họ, bậc quan trọng nhất và đáng được cảm ơn nhất là Phật A-di-đà, cho nên tự nhiên sẽ niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’ đấy là ‘tín tâm chắc chắn đầy đủ trong danh hiệu’.
Như vậy, ‘danh hiệu chưa chắc đầy đủ tín tâm’, chính là nói: Dù người xưng danh nhưng chưa chắc đã có tín tâm. Bởi vì, người xưng danh rất nhiều, mọi người đều niệm Phật, nhưng chưa hẳn hiểu nguyên lý cứu độ của Phật A-di-đà. Như vậy rất có thể một mặt họ niệm Phật, mặt khác lại nghĩ rằng không thể vãng sanh. Tình trạng xấu nhất là bỏ dở giữa chừng, mọi người nói pháp môn này hay, pháp môn kia tốt, rồi cũng theo tu pháp môn đó vì không thể hiểu rõ vấn đề này.
Vì thế, có tín tâm ắt phải song hành với việc xưng danh, nếu như có tín tâm mà không xưng danh, thì tín tâm này chẳng phải là niềm tin chân thật. Nếu có người nói ‘tôi đã tin rồi, tôi có thể không cần niệm Phật nữa’, đó là tín tâm giả dối. Nếu đã thật sự tin nhận, họ sẽ dung nạp tín tâm vào câu niệm Phật, hoàn toàn sẽ không nói niệm Phật có khó khăn, hoặc chấp tướng!
Việc xưng danh niệm Phật, niệm ở trong tâm cũng được, niệm ở nơi miệng cũng xong, hớn hở vui mừng mà niệm, như thế phát ra một cách rất tự nhiên, ‘nghe sức bản nguyện của Phật A -di-đà liền hoan hỷ bất tri bất giác xưng danh hiệu Phật’.
Nhưng, vốn không hiểu về nội dung tin hay không tin rốt cuộc như thế nào, chẳng cần để ý đến làm gì, bạn chỉ cần tin tưởng: “Dẫu cho người không tin nhưng Đức Phật A-di-đà cũng phải cứu độ họ”. Như vậy tin cũng nằm ở ngay trong câu danh hiệu, sau đó thì xưng danh. Hôm nay có thời gian một ngày, thì xưng danh hiệu một ngày, một ngày qua đi, thọ mạng sắp hết, tự nhiên vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Nếu có hai ngày thì bạn xưng danh hai ngày; nếu có bảy ngày, hoặc có mười bốn ngày, hoặc có bốn mươi chín ngày, hoặc bảy năm, hoặc bảy mươi năm, thì bạn dùng những thời gian này chỉ có một mực niệm Phật mà thôi. Khôngthể nói: “Ta có nhiều thời gian như vậy, ta nên tu cái này tu cái kia…”.
- Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, chỉ có người tín nguyện niệm Phật mới được tâm quang của Đức Phật A-di-đà nhiếp thủ, nhưng người không có tín nguyện niệm Phật chỉ được ánh sáng chiếu đến mà không được nhiếp thủ, cho nên không thể vãng sanh, chuyện này là thế nào?
Đáp: Phật quang có hai loại: Một là thân quang (trên thân phóng ra ánh sáng). Hai là tâm quang. Thân quang cũng được mà tâm quang cũng được, thật ra đều cùng một thể, đều chiếu khắp thế giới trong mười phương. Đã chiếu khắp thế giới trong mười phương, giống như vầng thái dương xuất hiện thì bất cứ loài động vật thực vật nào trên mặt đất cũng đều ở trong ánh sáng mặt trời. Cũng giống như vậy, ánh sáng của Đức Phật A-di-đà chiếu khắp thế giới mười phương, bất cứ chúng sanh nào, bất luận người thiện hay người ác, thậm chí chúng sanh ở địa ngục cũng tiếp nhận được ánh sáng của Phật A-di-đà. Nhưng người niệm câu danh hiệu này mới được ánh sáng nhiếp thủ, bởi vì câu danh hiệu này là bản thể của Phật A-di-đà, hễ niệm câu danh hiệu này thì tự nhiên tiếp nhận được tâm quang của Phật A -di-đà nhiếp thủ, cảm ứng với bản thệ nguyện của Ngài.
Tâm nguyện của Phật A-di-đà hiển lộ trong câu danh hiệu này, muốn độ người xưng niệm câu danh hiệu; ánh sáng của Ngài chiếu đến nhiếp thủ, tâm của mình tương ứng với tâm chúng ta xưng niệm danh hiệu là phù hợp với tâm nguyện của Ngài, tự nhiên nhận được Ngài.
Cũng như đài truyền hình phát ra sóng điện từ, phát đến mọi nơi, không có chỗ nào mà không có sóng điện từ của đài truyền hình. Nhưng nếu bạn không chuyển kênh truyền hình sẽ không cảm ứng và kết nối với kênh truyền hình đó, thì không thể nhận được tin tức.
Cũng giống như thế, ánh sáng của Phật A-di-đà chiếu khắp các thế giới trong mười phương, nhưng chúng ta không xưng danh thì không cảm ứng với tâm quang của Ngài. Chỉ có xưng danh mới là tâm nguyện của Phật A-di-đà.
Danh hiệu Đức Phật A-di-đà là bản thân của Ngài, là câu danh hiệu này, ngoài danh vô thể, ngoài thể vô danh, vì thế người tin nhận sự cứu độ của Đức Phật A-di-đà mà xưng niệm câu danh hiệu của Ngài, tự nhiên tâm quang của Ngài nhiếp thủ sẽ được vãng sanh; người không xưng danh sẽ không có được sự lợi ích của ánh sáng nhiếp thủ.
- Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà rốt cuộc thế nào?
Đáp: Người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà đương nhiên có tín tâm đối với Phật A-di-đà, có tâm cung kính. Đối với bản thân thì có tâm tốt, lòng hổ thẹn; đối với người khác, có tâm quý mến,
bao dung. Tại sao vậy? Bởi vì, họ thấu rõ Phật A-di-đà thương mến và bao dung họ. Khi hiểu được tình thương bao la của Phật A-di-đà, họ sẽ hổ thẹn bản thân là người đầy tội ác, vì thế đối với bản thân, thì có tâm tốt, lòng hổ thẹn, một khi lời nói hành vi phạm phải sai lầm, lương tâm lập tức bị dày vò, suy nghĩ lại sẽ càng sâu sắc hơn trước đây.
Có thể nói tình thương và sự tha thứ của Phật A-di-đà đối với chúng ta là vô cùng to lớn. Nếu nói về chúng ta, chúng ta là người tội ác sâu nặng trong sanh tử, từ nhiều đời nhiều kiếp tạo ra rất nhiều tội nghiệp, đời này kiếp này soi xét lại bản thân, chính mình bất kể giờ phút nào, có ý hay không có ý đều đắc tội với người khác, cho nên chẳng phải chúng ta nhẫn nại người khác, tha thứ người khác, mà phải xin người khác tha thứ chúng ta. Nếu họ không tha thứ chúng ta thì cho dù chúng ta có tan xương nát thịt cũng không thể trả hết nợ cho họ.
Chúng ta là người không thể tha thứ, mà Phật A-di-đà thì tha thứ chúng ta! Chúng ta bị cảm động bởi sự tha thứ rộng lớn của Phật A -di-đà, chúng ta cũng có tâm tha thứ như vậy đối với tất cả chúng sanh. Vì thế, sinh mạng của Phật A-di-đà nằm ở ngay trong chúng ta, làm chủ của chúng ta, theo dõi chúng ta, sức phản tỉnh của chúng ta sẽ nhạy bén hơn.
- Hỏi:Xin hỏi Sư phụ, người niệm Phật cũng có khổ não, lúc bình thường nói niệm Phật được pháp hỷ, lúc khổ não niệm Phật có được pháp hỷ không? Trong tâm họ có chuyển hóa gì không?Đáp: Người không nghe được sự từ bi cứu độ của Phật A-di-đà, bảo họ niệm Phật được là tốt rồi. Nhưng nghịch cảnh đến, phiền não đến, bệnh hoạn đến thì câu danh hiệu vụt biến mất.Nếu nghe và tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, nghe và tin là nguyên lý của câu danh hiệu này, phiền não đến họ vẫn có pháp hỷ, khổ đến nỗi niệm không ra tiếng, cũng được an ổn; lúc nghịch cảnh đến cũng sẽ cam tâm thừa nhận.
Phiền não đến, không coi phiền não là phiền não; thống khổ đến, không coi thống khổ là sự lo âu, dù không niệm được câu danh hiệu này nhưng tâm vẫn được an ổn. Đồng thời, nếu họ có thể niệm Phật, họ sẽ không thốt ra tiếng ‘ai da, ai da’ khổ sở mà thay vào đó là niệm câu ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’.
Còn người nghe và tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, tâm tánh sẽ được chuyển hóa. Bởi vì, chúng ta hiểu rằng Đức Phật A-di-đà cứu độ chúng ta, Ngài không những không tính toán với chúng ta, mà trái lại Ngài tha thứ chúng ta. Lúc Ngài tha thứ chúng ta làm cho chúng ta cảm động, chúng ta cũng sẽ tha thứ, không so đo với người khác.
Phật A -di-đà cứu chúng ta, không chỉ cứu sinh mạng chúng ta, mà còn khiến cho chúng ta không còn trở lại luân hồi trong sáu nẻo, hơn nữa Ngài cho chúng ta sinh mạng Vô lượng thọ và Vô lượng quang, ban cho chúng ta sinh mạng ‘vô duyên đại từ, đồng thể đại bi’, ban cho chúng ta sinh mạng trí huệ của Phật. Có thể nói, không chỉ cho chúng ta sinh mạng mà còn cho chúng ta sinh mạng rất phong phú, đồng thời cho chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Bạn xem, những thứ phong phú và cao quý như thế, trong một sát-na1 chúng ta có tất cả, có thể nói trong một sát- na, chúng ta trở nên cao quý như thế. Lúc đó, khi đối diện với người khác, chúng ta thấy nhu cầu của họ, nếu có thể, chúng ta dốc sức giúp đỡ, làm thỏa mãn họ, giống như Phật A -di-đà đến giúp đỡ, bố thí, làm hài lòng chúng ta vậy.
Sự chuyển hóa này, thật ra không hề dễ dàng chút nào, chúng ta muốn tha thứ một người, người này nếu là người tốt, họ làm sai chúng ta tha thứ họ, thì rất dễ dàng.
Nhưng người khó tha thứ, mà chúng ta cũng tha thứ được, đây là sức mạnh lưu xuất từ nội tâm chúng ta, sức mạnh này đến từ Đức Phật A-di-đà. Tại sao vậy? Người khác không thể tha thứ họ, mà chúng ta có thể tha thứ, là bởi vì Phật A-di-đà tha thứ và bao dung chúng ta,
Chúng ta thử nghĩ xem, bản thân mình thuộc loại chúng sanh nào? Tâm mình có thể nói là rất thấp hèn, rất nhiễm ô, rất cáu bẩn, không thể nói với người, không chỗ dung thân, nhưng Phật A-di-đà hoàn toàn không tính toán. Nếu thể ngộ được lòng đại từ bi này của Đức Phật A-di-đà, thì chúng ta sẽ bao dung và tha thứ tất cả mọi người.
Đương nhiên, đây không phải là tiêu chuẩn, bởi vì chúng sanh trong mười phương không giống nhau, nhưng tồn tại công năng chuyển hóa.
Vì thế, khi tin nhận pháp môn Tịnh Độ, tâm chúng ta sẽ nhu nhuyến. Tâm nhu nhuyến sẽ thể hiện lòng không tính toán, có thể tha thứ bao dung, đồng thời đối với tất cả mọi người đều tốt cả, lòng luôn áy náy, luôn cảm thấy có lỗi. Bởi vì, từ nhiều kiếp đến nay chúng ta không biết đã nợ chúng sanh nhiều hay ít, không thể trả được, vả lại cũng không biết, hiện tại được ánh sáng của Phật A-di-đà chiếu soi, ‘thì ra chúng ta vốn là chúng sanh như thế đó!’.
Vì lẽ đó, sở dĩ pháp môn Tịnh Độ không giống với pháp môn tự lực là ở điểm này. Pháp môn tự lực phải tự mình tu lục độ vạn hạnh, tự mình tu bố thí, tu nhẫn nhục. Chúng ta thì không giống như vậy, chúng ta làm một cách tự nhiên, dù cho làm như thế nhưng không nghĩ rằng chúng ta đang tu bố thí, bởi vì chúng ta biết mình là hạng phàm phu tội ác sanh tử, biết công đức mình đã làm đều là hữu vi hữu lậu cả, đều là tâm giả dối, có tâm trả giá, còn tồn tại tâm danh lợi, hoàn toàn chẳng phải dâng hiến một cách chân thật;
Chỉ có Đức Phật A-di-đà hiến dâng thế giới Cực Lạc cho chúng ta, ban tặng công đức thành Phật cho chúng ta, khiến cho chúng ta tự nhiên cũng nghĩ phải trả ơn, hơn nữa, trả ơn nhưng lại không có tâm mong cầu đền đáp. Bởi vì, công đức lớn nhất của Phật A-di-đà đã ban cho chúng ta rồi thì chúng ta chẳng cần cầu mong công đức gì nữa cả.
Nói theo sự nhẫn nhục, trước đây đều là yêu cầu mình nhẫn nhục, nhẫn nhục người khác có lỗi với mình, nhẫn nhục tất cả nghịch cảnh, nhẫn nhục mọi người phỉ báng và chửi mắng. Nhưng bây giờ không phải như vậy, hiện tại cầu đối phương nhẫn nhục chúng ta. Chúng ta từ nhiều kiếp đến nay mắc nợ mọi người, sỉ nhục mọi người, thậm chí đời này kiếp này đã vô tình phạm lỗi với người ta, cho nên xin người ta tha thứ nhẫn nại, chẳng phải chúng ta tha thứ, nhẫn nại họ.
Nội dung nguyện thứ 18, là tin Cơ và tin Pháp. ‘Cơ’ là chúng sanh mười phương, ‘Pháp’ là sự cứu độ của Phật A-di-đà. Chúng sanh mười phương là chúng sanh mắc tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp. Chúng sanh mười phương là chúng sanh tội ác sâu nặng không có duyên ra khỏi sanh tử (tội ác đầy thân, cho nên mới ‘không có duyên ra khỏi sanh tử’).
Nếu không có tội nghiệp thì họ là bậc thánh nhân, người hoàn mỹ, và có sức mạnh thoát khỏi ba cõi. Trên thế gian này, chỉ có mọi người nhận ân huệ của họ chứ họ không mắc nợ mọi người; mọi người tiếp nhận sự huân tu cảm hóa của họ chứ họ không có sỉ nhục mọi người. Nhưng chúng ta chẳng phải hạng người như vậy! Chúng ta tội ác sâu nặng không có duyên ra khỏi sanh tử, dù có ý hay không có ý, biết hay không biết đều mắc nợ mọi người, cho nên phải xin mọi người tha thứ.
Đây đương nhiên không phải là tiêu chuẩn. Chúng sanh không giống nhau, người có tập khí tương đối sâu nặng, đột nhiên đối diện với tình huống nào đó, sẽ đùng đùng nổi giận, phát ra theo tính khí của bản thân. Nhưng sau việc đó thì sẽ phản tỉnh, bởi vì rốt cuộc chúng ta là người tin sâu Cơ, tin sâu Pháp, Cơ và Pháp trong tâm chúng ta rất sâu, rất nhạy bén, cho nên dù lúc ấy không có phát giác, nhưng sau đó cũng sẽ nhận ra.
- Hỏi: Vừa mới nghe Sư phụ giảng, cốt lõi của Quán kinhnằm ngay chỗ ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’, xưng danh thì nhất định được vãng sanh, nhưng cách xưng danh này, có một lý luận giải thích là phải xưng niệm đến mức độ nào mới có thể được bất thoái, có giống nhau hay không? Xin Sư phụ giải thích đôi chút về hàm nghĩa cụ thể của hai cách xưng danh này.Đáp: Vừa rồi tôi chưa nói rõ, phải giải thích thêm nữa về việc ‘xưng danh’ trong ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’, và có mấy cách xưng danh, nội hàm và tính chất của những cách xưng danh ấy là như thế nào.
Xưng danh chia làm xưng danh tự lực và xưng danh tha lực.
Xưng danh tự lực là xưng danh theo cách thông thường. Thế nào là tự lực? Cũng chính là ‘tự lực trong tha lực’. ‘Tha lực’ chính là chỉ cho sự cứu độ của Phật A -di-đà, xưa nay sự cứu độ của Phật A-di-đà là sức của Ngài thảy đều đầy đủ, nhưng chúng ta không hiểu được điều đó, cho rằng Phật A -di-đà tuy muốn cứu chúng ta, nhưng Ngài đứng ở trên cao, xa tít ở thế giới Tây phương Cực Lạc,
Chúng ta ở đây đảnh lễ hướng về nơi xa đó mong cầu. Tuy muốn cầu vãng sanh, nhưng cho rằng cần phải tích lũy công đức, hoặc tích lũy công phu và công đức của danh hiệu, hồi hướng như vậy mới có thể tương ưng với sự cứu độ của Phật A -di-đà. Cho rằng ‘Tuy Phật A-di-đà muốn cứu độ chúng ta, nhưng chúng ta nếu không đủ điều kiện nào đó, thì không thể được cứu độ’, đây là ‘tự lực trong tha lực’, nghĩ rằng Phật A-di-đà có điều kiện. Đây không phải xưng danh niệm Phật ‘cho đến mười niệm’ của đại nguyện thứ 18.
Xưng danh tha lực là xưng danh niệm Phật của nguyện thứ 18, chính là chân chính niệm Phật ‘cho đến mười niệm’, cũng chính là niệm Phật ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’ của Đại sư Thiện Đạo đã giải thích. Cách niệm Phật này hoàn toàn là không có điều kiện nào cả, hoàn toàn là niệm Phật tiếp nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, bản thân niệm Phật không có tính toán và suy nghĩ gì cả.
Nếu cho rằng “Phải niệm đến chỗ ‘Sự lý nhất tâm’, dù không thể được ‘Lý nhất tâm’1 nhưng phải cần ‘Sự nhất tâm’. Nếu không thì
ít nhất công phu cũng thành phiến, thức ngủ niệm Phật cũng như
nhau, tịnh niệm tương tục, như vậy sẽ nắm chắc được sự vãng sanh lúc lâm chung. Nếu hiện đời không đạt được công phu như thế, thì lúc lâm chung làm sao có chánh niệm được? Vì thế, lúc bình thường phải bồi dưỡng công phu ‘bất loạn’, đợi đến lúc lâm chung thì sẽ có chánh niệm, lúc đó thì Phật sẽ đến tiếp đón, nếu không như vậy lâm chung sẽ không có chánh niệm, thì Phật không thể đến tiếp dẫn…”, đây chính là quan niệm của tự lực, chẳng hiểu nguyên lý của sáu chữ danh hiệu và sự cứu độ của Phật A-di-đà.
Quan niệm này giống như cầm một con dao đâm vào ngực Phật A-di-đà. Bởi vì, ý chính của Phật A-di-đà không phải như vậy (nếu là như vậy, chúng sanh trong mười phương, rất ít người có thể đạt đến tiêu chuẩn này), Phật A -di-đà có vô duyên đại từ và đồng thể đại bi, Ngài xem chúng ta là bản thân Ngài, hơn nữa Ngài đã hoàn thành công đức cứu độ chúng ta, chỉ xin chúng ta để Ngài cứu. Tại sao Ngài đưa ra điều kiện này cho chúng ta?
Nếu Phật A-di-đà đưa ra điều kiện nào đó cho chúng ta thì chúng sanh trong mười phương không thể vãng sanh. Trong tâm trí huệ đại từ đại bi của Phật A-di-đà lẽ nào lại không biết, mà lại kiên quyết đưa ra điều kiện nào đó?
Ba mẹ có lòng từ ái, từ lâu đã thất lạc đứa con rất mực thương yêu, hiện nay phát hiện ra chỗ ở của đứa bé. Đứa bé phải dãi nắng dầm mưa, chịu bao vất vả, ba bữa cơm không no. Ba mẹ thương con, vừa nhìn thấy liền đau lòng, lập tức đưa đứa bé về nhà, thoát khỏi cảnh bần hàn vất vả đó. Nhưng đứa bé vẫn ngu si, tâm tính thấp hèn, cho rằng sự vinh hoa phú quí của cha mẹ, tự mình không có tư cách, nếu phải trở về, thì phải có điều kiện như thế nào đó mới về.
Vì thế, đứa bé đợi bên ngoài rất lâu, tự nó có cách nghĩ thấp hèn, không thể hiểu được lòng thương con của cha mẹ, như vậy càng làm cho cha mẹ đau lòng. Bởi thế, chúng ta không tiếp nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, có quan niệm như thế đối với Phật A-di-đà thì cũng giống như cầm dao đâm vào ngực của Ngài. Đây là tâm thái niệm Phật tự lực.
Niệm Phật tha lực, không đề cập những điều như vậy, nghĩa là căn tính của chúng ta như thế nào thì cứ như thế ấy mà niệm Phật, không cần quan tâm đến việc niệm Phật có nhất tâm hay không. Bởi vì, không coi đó là mục tiêu, là tiêu chuẩn, mà tiếp nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà để xưng niệm câu danh hiệu này, vì công đức bảo châu của Phật A-di-đà nằm ở ngay trong tâm chúng ta, mỗi tiếng danh hiệu Phật thốt ra đều là ánh sáng phát ra từ viên ngọc báu ma-ni này.
Đây không phải một tiếng này là một viên ngọc báu ma-ni, còn tiếng kia lại không có, mỗi tiếng đều là ánh sáng của viên ngọc báu ma-ni. Việc vãng sanh là viên ngọc báu ma-ni của danh hiệu này khiến chúng ta vãng sanh, chứ không phải công phu xưng niệm trong miệng khiến chúng ta vãng sanh. Chỉ là nói: Trong tâm của chúng ta đã có viên ngọc báu ma-ni danh hiệu Phật A-di-đà, chúng ta lúc nào cũng lưu xuất hiện tượng xưng danh này; dù lưu xuất như vậy, mà vẫn xưng niệm câu ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’, trong tâm không có quan niệm phải tích lũy công phu, hoặc phải đạt đến ‘Sự lý nhất tâm’
Bởi vì, hiểu được mình là người đã được Đức Phật A-di-đà cứu độ, đã là người quyết định vãng sanh về thế giới Cực Lạc, hiện tại niệm Phật chính là ánh sáng do viên ngọc báu ma-ni phát ra từ nội tâm, đây là điều tự nhiên.
Vì thế, lúc giải thích về ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’, Đại sư Thiện Đạo giải thích là:
Bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ.
Trong lúc ‘đi đứng nằm ngồi’, tâm chúng ta thường tán loạn. Cho nên, khi ‘đi đứng nằm ngồi’, không chỉ là ngồi tĩnh tọa trên bồ đoàn niệm Phật, mà lúc đi cũng niệm Phật, đứng cũng niệm Phật, nằm cũng niệm Phật, hơn nữa lại nói ‘bất luận thời gian lâu hay gần’, bất kể bạn tu thời gian dài hay ngắn, niệm một năm, hoặc mười năm, hai mươi năm, ‘thời gian lâu hay gần’, đây mới là ý nghĩa chân chính của ‘cho đến’.
‘Cho đến’ chính là: Bất kể bạn là người xuất gia hay tại gia, người thiện hay kẻ ác, người nam hay người nữ, già hay trẻ, người trí hay kẻ ngu, người hiền hay kẻ bất tiếu (không ra gì), đấy đều là ‘cho đến’. Nếu chẳng phải ‘cho đến’, nếu Đức Phật A- di-đà nói hạn chế rằng: “Phải xuất gia phát tâm bồ-đề cho đến mười niệm”, thế thì hỏng rồi! Người xuất gia thì ít, hơn nữa phát tâm bồ-đề, mấy người có thể làm được? Nhưng ‘cho đến’, ngay cả thân phận cũng là ‘cho đến’, số lượng cũng là ‘cho đến’, tình cảm, tâm lý cũng là ‘cho đến’, cho nên hàm nghĩa chữ ‘cho đến’ này rất rộng.
Bởi vì, có hai chữ ‘cho đến’, làm cho tâm chúng ta được an ổn. Vì thế, việc niệm Phật của chúng ta chính là xưng danh niệm Phật ‘cho đến mười niệm’ này. Nhưng việc xưng danh niệm Phật ‘cho đến mười niệm’ vốn đã nhận lãnh được bản nguyện của Đức Phật A-di-đà ‘nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác’.
(Còn tiếp)
Trích Đại Ý Ba Kinh
Thích Minh Tuệ


