8.Bốn điểm đặc sắc của tông Tịnh Độ
Bản nguyện xưng danh- Phàm phu nhập báo
- Bình sanh nghiệp thành
- Hiện sanh bất thoái
Bốn câu gồm có mười sáu chữ, mỗi câu đều nói một vấn đề. Dưới các tiêu đề này đều sẽ dẫn dụng văn kinh có tương quan, còn có thêm lời giải thích của Tổ sư để chứng minh tính chính xác của các tiêu đề này và ý nghĩa tinh tế nội hàm trong đó.
Bây giờ tôi xin nói đơn giản, vì sao bốn câu này cấu thành đặc sắc của tông Tịnh Độ.
‘Đặc sắc’ tức là đặc biệt chỉ có pháp môn này có, mà các pháp môn khác thì không có. Chúng ta đã học tập tông Tịnh Độ, chúng ta đã tu tập pháp môn Tịnh Độ, chỉ cần nắm vững các điểm đặc sắc của pháp môn này. Nếu không nắm vững các điểm đặc sắc này thì bạn tu học tông Tịnh Độ cũng giống với các pháp môn khác, các tông phái khác, một cách mơ hồ. Vì thế, các điểm đặc sắc này rất trọng yếu.
Điểm đặc sắc thứ nhất: Bản nguyện xưng danh
Vừa rồi, chúng ta nói đến hai chữ ‘xưng danh’, xưng danh là điểm đặc sắc của tông Tịnh Độ.
Tám tông phái lớn của Phật giáo, điểm đặc sắc của Luật tông là gì? Trì giới thanh tịnh, ba nghiệp thanh tịnh là điểm đặc sắc của Luật tông. Thiền tông có điểm đặc sắc nào? Minh tâm kiến tánh là điểm đặc sắc của Thiền tông. Mật tông có điểm đặc sắc nào? Tam mật tương ưng là điểm đặc sắc của Mật tông. Tông Thiên Thai có điểm đặc sắc nào? Chỉ quán song vận, nhất tâm tam quán là điểm đặc sắc của tông Thiên Thai.
Tông Duy Thức có điểm đặc sắc nào? Duy thức quán chuyển thức thành trí là điểm đặc sắc của tông Duy Thức. Tông Tịnh Độ có điểm đặc sắc nào? Bản nguyện xưng danh. Xưng danh là xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật, đây là điểm đặc sắc của tông Tịnh Độ.
Vì sao nói hai chữ ‘bản nguyện’, vì ‘xưng danh’ thì các tông các phái đều có nói đến, họ muốn cầu sanh Tịnh độ nên họ cũng xưng danh, nhưng họ giảng xưng danh khác với chúng ta, xưng danh của tông Tịnh Độ chúng ta là xưng danh của bản nguyện.
Sao gọi là xưng danh của bản nguyện? Bất luận bạn có công phu hay không có công phu, bất luận bạn trì giới thanh tịnh hay không thanh tịnh, bất luận bạn có phát bồ-đề tâm hay không phát bồ-đề tâm, chỉ cần miệng bạn xưng Nam-mô A-di-đà Phật, tức là thuận theo bản nguyện của Phật thì chắc chắn vãng sanh, do nương nhờ bản nguyện của Phật, đây gọi là ‘bản nguyện xưng danh’.
Hai câu: “Miệng niệm Di-đà tâm tán loạn, hét bể cổ họng vẫn uổng công vô ích” không được gọi là bản nguyện xưng danh mà gọi là thiền định xưng danh, chẳng phải là điểm đặc sắc của tông Tịnh Độ.
Có người nói: “Bạn tuy niệm Phật, nhưng nếu trì giới không thanh tịnh thì bạn niệm Phật cũng vô dụng”. Đây là trì giới xưng danh chứ chẳng phải bản nguyện xưng danh.
Bản nguyện của Phật A-di-đà là muốn cứu độ mười phương chúng sanh, đã bao quát chúng sanh trì giới, cũng bao quát cả chúng sanh không trì giới; đã bao quát chúng sanh thiền định, cũng bao quát cả chúng sanh tán loạn. Phật A-di-đà muốn độ mười phương chúng sanh, Ngài chẳng phải chuyên độ chúng sanh thiền định, thế tại sao lại hạn định nói, nhất định phải có công phu thiền định?
Cũng có người nói: “Tôi tuy xưng danh mà nếu không có phát bồ-đề tâm thì xưng danh cũng vô dụng”. Đây gọi là phát bồ-đề tâm xưng danh.
Bản nguyện trì danh ư! Bạn có năng lực phát bồ-đề tâm cũng được, không phát bồ-đề tâm cũng được; mười phương chúng sanh chỉ cần xưng danh thì được cứu độ.
Vì thế, xưng danh của tông Tịnh Độ là bản nguyện xưng danh. Bản nguyện xưng danh là chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà. Bất luận công phu sâu cạn, bất luận tâm
thanh tịnh hay không thanh tịnh, bất luận người xuất gia hay tại gia, tất cả thân phận đều không luận, chỉ cần miệng xưng danh hiệu. Miệng xưng danh hiệu là nương nhờ nguyện lực của Phật thì chắc chắn được vãng sanh; đây là điểm đặc sắc của tông Tịnh Độ
Điểm đặc sắc thứ hai: Phàm phu nhập báo
‘Phàm phu nhập báo’ vì sao là điểm đặc sắc của tông Tịnh Độ? Đầu tiên, các tông phái khác tiếp nhận căn cơ, chủ yếu là căn cơ thánh nhân. Thí như trì giới thanh tịnh, việc này đâu phải dễ!; minh tâm kiến tánh, việc này đâu phải dễ!; chuyển thức thành trí, việc này đâu phải dễ!; chỉ quán song vận, việc này đâu phải dễ! Các tông phái này đều lấy căn cơ thánh nhân làm đối tượng chính, chẳng phải lấy phàm phu làm gốc.
Đặc biệt, ‘Bản nguyện xưng danh’ lấy phàm phu làm gốc. Chúng ta nghiệp chướng sâu nặng, tâm ý tán loạn, tội nghiệp bất tịnh, chỉ cần miệng niệm Nam-mô A-di-đà Phật là được rồi, vì thế nói là ‘phàm phu’.
‘Nhập báo’ nghĩa là chúng ta miệng xưng Nam-mô A-di-đà Phật, nương nhờ bản nguyện của Phật thì được những sự lợi ích nào? Chẳng phải vãng sanh Phàm thánh đồng cư độ, chẳng phải vãng sanh Biến hóa độ, mà là vãng sanh đến Báo độ của Phật A-di-đà. Đây là giáo lý đặc biệt chỉ có trong tông Tịnh Độ, các tông phái khác không có. Tông Thiên Thai nói: Phàm phu niệm danh hiệu cũng có thể vãng sanh, nhưng vãng sanh về Phàm thánh đồng cư độ ở phương khác, điều này chẳng phải là điểm đặc sắc của tông Tịnh Độ.
‘Phàm phu nhập báo’ là nội dung trọng yếu thuộc về tiêu chuẩn trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo. Phàm phu tội nghiệp sâu nặng, tu hành không đạt đến cảnh giới cao thì làm sao có thể vãng sanh về Báo độ của Phật? Do vì người ấy nương vào bản nguyện xưng danh (nguyện thứ mười tám) của Phật A-di-đà, do vì người ấy đã xưng danh hiệu Phật A-di-đà, dựa vào duyên bản nguyện của Phật A-di-đà. Vì thế, đây là điểm đặc sắc của tông Tịnh Độ mà các tông phái khác không có.
Nếu chúng ta học tông Tịnh Độ, xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật mà còn tự hỏi vãng sanh ở đâu trong bốn độ: Phàm thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thật báo trang nghiêm độ, Thường tịch quang độ thì có thể nói là bạn chẳng biết điểm đặc sắc của tông Tịnh Độ, cũng chẳng biết tông chỉ của tông Tịnh Độ, bạn cũng không có học tông Tịnh Độ, bạn là người học pháp môn Tịnh Độ của tông Thiên Thai, chứ chẳng phải pháp môn Tịnh Độ của tông Tịnh Độ.
Pháp môn Tịnh Độ có các cách thức của pháp môn Tịnh Độ như là có pháp môn Tịnh Độ thuần chánh, có pháp môn Tịnh Độ xen tạp, có pháp môn Tịnh Độ của tông Thiên Thai, có pháp môn Tịnh Độ của Thiền tông, có pháp môn Tịnh Độ của tông Duy Thức, có pháp môn Tịnh Độ của Mật tông, có pháp môn Tịnh Độ của Luật tông. Pháp môn Tịnh Độ được Đại sư Thiện Đạo giải thích mới là pháp môn Tịnh Độ cứu được bọn phàm phu chúng ta. Các tông phái khác nói, là pháp môn Tịnh Độ dành cho bậc thượng căn lợi trí.
Thí như nói: “Miệng niệm Di-đà tâm tán loạn, hét bể cổ họng cũng uổng công vô ích”. Tốt! ‘Tôi đạt đến, tâm tôi không tán loạn’ thì mới phù hợp với điều kiện ấy, nhưng chúng ta thì làm không nổi. Chúng ta đã làm không nổi thì phải làm sao bây giờ?
Chúng ta phải y cứ vào lời giải thích của Đại sư Thiện Đạo. Vì thế, chúng ta phải chuyên đọc các trứớc tác của ngài, chuyên xem các sách giải thích các trước tác của Đại sư Thiện Đạo thì bảo chứng người ngu tối, người không có lòng tin rồi cũng bừng tỉnh ra biết rằng mình vốn có phần được vãng sanh!
Lúc ấy bạn mới biết, Phật A-di-đà vì sao được gọi là Vô Lượng Quang Phật. Vô Lượng Quang Phật là vì ánh sáng của Ngài chiếu phá vô minh hắc ám trong tâm chúng ta.
Nếu trong tâm chúng ta vẫn còn sợ hãi việc lớn sanh tử, còn vô minh hắc ám, miệng chúng ta gọi mãi Vô Lượng Quang Phật mà Phật không quan tâm đến thì đâu được gọi là ‘Phật quang phổ chiếu’. Cái chỗ nhỏ này mà Phật không chiếu tới thì đâu được gọi là ‘Phật quang phổ chiếu’?
Học tư tưởng của Đại sư Thiện Đạo, xem ba bộ kinh nói về Tịnh độ, bạn có thể hiểu, nhưng xem đến mức tâm rất an, thì bạn phải xem đến mức thấu triệt thì bạn mới không nói hai câu: “Miệng niệm Di-đà tâm tán loạn, hét bể cổ họng cũng uổng công vô ích”.
Hai câu này đối với tông Tịnh Độ chỉ là lời nói của người ngoài.
Nếu hiểu rõ được tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Thiện Đạo thì bạn sẽ sáng mắt ra. Vì thế, mọi người cần nên hiểu các điểm đặc sắc của tông Tịnh Độ.
Điểm đặc sắc thứ ba: Bình sanh nghiệp thành
‘Bình sanh’ là giai đoạn thời gian chúng ta đang sống, đối lại với lúc lâm chung (chết).
‘Nghiệp thành’, ‘nghiệp’ tức là tịnh nghiệp vãng sanh
Tịnh độ, việc này thành tựu rồi, không còn cải biến, hoàn thành rồi. Như thân thể chúng ta hiện nay đang sống khỏe mạnh mà việc vãng sanh của chúng ta chắc như đinh đóng vào cột, thì gọi là ‘bình sanh nghiệp thành’.
Sao gọi là ‘lâm chung nghiệp thành’? Nghĩa là lúc lâm chung thành tựu vãng sanh. Người suốt đời không gặp Phật pháp, không có niệm Phật, đến lúc lâm chung mới gặp thiện tri thức dạy niệm Nam-mô A-di-đà Phật, như đã nói, đó là người hạ phẩm hạ sanh, người ấy niệm mười câu danh hiệu Phật, Phật đến cứu người ấy, Phật A-di-đà hiện ra đứng trong hư không đón tiếp, người ấy theo Phật A-di-đà vãng sanh đến thế giới Cực Lạc ở phương tây. Đây gọi là ‘lâm chung nghiệp thành’.
Mời quý vị chắp tay niệm ba câu: Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật.
Nếu có quý vị đến đây mà từ trước đến nay chưa từng niệm Phật, đột nhiên được niệm Phật; cả đời chưa từng tiếp xúc qua Phật pháp, hôm nay đột nhiên được tiếp xúc. Nếu vừa niệm ba câu danh hiệu Phật mà tắt thở thì quý vị lập tức vãng sanh Tây Phương, đây gọi là ‘lâm chung nghiệp thành’. Chúng ta đang ngồi ở đây, nếu tin nhận Di-đà cứu độ, chuyên xưng Di-đà Phật danh, thì mỗi người quý vị đều được gọi là ‘Bình sanh nghiệp thành’, việc vãng sanh Tây Phương của chúng ta đã quyết định rồi. Đến lúc lâm chung dù chết trong tình huống nào cũng không quan hệ.
Nếu chẳng phải như thế thì tâm chúng ta bất an. Tỷ như nói, lúc lâm chung, chẳng may bị xuất huyết não, hoặc có chướng ngại nào đó, giống như thuyền mười giờ khởi hành, mà chín giờ ba mươi, người đó đã ngồi trên thuyền rồi, lúc chín giờ năm mươi tám phút, người đó ngủ, cũng chẳng quan hệ gì! Không có vấn đề gì! Thần lực của Phật A-di-đà vô ngại, nếu Ngài chẳng cứu bạn đang xuất huyết não thì Ngài đâu thể cứu bạn đến thế giới Cực Lạc?
Vì thế, vốn chẳng thành vấn đề! Chúng ta cho đây là vấn đề lớn, nhưng đối với Phật A-di-đà thì chẳng thành vấn đề, vì Ngài đã sớm nhiếp thủ chúng ta trong ánh sáng của Ngài rồi. Vì thế, tội chướng, oan trái của chúng ta, đối với Ngài chẳng thành vấn đề, tự nhiên Ngài cứu bạn đến thế giới Cực Lạc ở phương tây.
Điểm đặc sắc thứ tư: Hiện sanh bất thoái
Nói: “Vãng sanh thế giới Cực Lạc, đến đó rồi mới được bất thoái chuyển, sau đó dần dần tu hành, chỉ có tiến, không có thoái, từ từ thành Phật”. Đây chẳng phải là quan niệm của tông Tịnh Độ.
Điểm đặc sắc của tông Tịnh Độ là chúng ta ở thế giới Ta-bà này, đem thân phàm phu đắc quả vị Bất thoái chuyển. Tại sao có thể được như thế? Như tôi đã nói, chúng ta ngồi trên chiếc máy bay sáu chữ danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật, chỉ có tiến mà không có thoái. Ngồi trên thuyền đại nguyện của Phật A-di-đà thì chỉ có tiến, không có thoái. Được ánh sáng của Phật A-di-đà nhiếp thủ, chẳng rời bỏ, nên chúng ta được bất thoái chuyển, đây là Phật lực, chẳng phải dựa vào tự lực. Nếu dựa vào tự lực thì chúng ta dễ bị thoái chuyển, dễ bị đọa lạc.
Vì thế, ‘hiện sanh bất thoái’ này chỉ cho cái gì? Một khi chúng ta đến thế giới Cực Lạc thì mau thành Phật, không có cái gọi là ‘dần dần tu hành, từ từ thành Phật’.
Hiện tại ở thế giới Ta-bà ‘hiện sanh bất thoái’, một khi đến Tịnh độ Cực Lạc thì mau thành Phật. Thế nên, trong luận Vãng sanh, Bồ-tát Thiên Thân nói: “Mau chóng đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề”. Và nói:
Quán sức bản nguyện Phật
Không phải là vô ích,
Mà mau chóng đầy đủ
Báu công đức như biển.
Mau đầy đủ của báu công đức nhiều như châu báu trong biển cả. Vì thế, nguyện thứ hai mươi hai trong bốn mươi tám nguyện của tỳ-kheo Pháp Tạng là ‘tốc thành Phật nguyện’. Ngài nói, người vãng sanh về cõi nước của Ngài thì: “Siêu việt thường luân chư địa chi hạnh, hiện tiền tu tập Phổ Hiền chi đức” (Vượt qua hạnh của các Địa theo lệ thường, hiện tiền tu tập đức của Phổ Hiền).
Sao gọi là ‘vượt qua hạnh của các Địa theo lệ thường’? ‘Thường luân’ (lệ thường) nghĩa là các thứ lớp bình thường từ Sơ địa lên Nhị địa, Tam địa, Tứ địa v.v., dần dần tu lên. Nhưng đến thế giới Cực Lạc thì không phải trải qua thứ lớp như thế.
Như đi thang lầu thì phải bước từng bậc thang, lên từng tầng lầu, còn nếu đi thang máy thì không cần phải bước từng nấc thang như đi bộ. Đây gọi là ‘siêu việt’ (vượt qua).
Chúng ta vãng sanh thế giới Cực Lạc ở phương tây, chẳng cần tu tập dần dần trải qua năm mươi mốt giai vị. Tại thế giới Ta-bà này hiện sanh bất thoái, đến thế giới Cực Lạc rồi, ‘vượt qua hạnh của các Địa theo lệ thường’ lập tức lên đến tầng cao nhất, được vô lượng quang, vô lượng thọ như Phật A-di-đà, nhưng chẳng hiển hiện quả vị Phật, vì ở Cực Lạc chỉ có một Đấng giáo chủ là Phật A-di-đà, vì thế chỉ hiển hiện thân phận là Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ, cho nên gọi là ‘vượt qua hạnh của các Địa theo lệ thường’.
‘Hiện tiền tu tập đức của Phổ Hiền’: ‘Hiện tiền’ là chẳng cần đợi đến ngày mai, chẳng cần đợi đến niệm thứ hai, ngay nơi đây, hiện tại, lập tức thì gọi là ‘hiện tiền’. Lập tức giống như Đại nguyện vương Phổ Hiền Bồ-tát, trở vào Ta-bà triển hiện đức của đại nguyện thì gọi là ‘Hiện tiền tu tập đức của Phổ Hiền’.
Vì thế, pháp môn Tịnh Độ rất siêu việt, trên đây là các điểm đặc sắc của pháp môn Tịnh Độ mà các tông phái khác không có. Các pháp môn khác giải thích đều là trì hoãn hơn, khó khăn hơn, không có sự thù thắng như ở đây đã giải thích.
Chúng ta phải ghi nhớ trong lòng tông chỉ và bốn điểm đặc sắc của tông Tịnh Độ rồi tư duy thì sẽ tăng thêm pháp hỷ, có thể giúp chúng ta khai trí huệ, cảm thấy pháp môn Tịnh Độ thật là thù thắng, chúng ta thật sự có phần vãng sanh.
Trích Bản Nguyện Niệm Phật
Thích Minh Tuệ


